Điều 24. Đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm,nghiên cứu hoặc bảo quản.
Thủtục đưa di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia ra nước ngoài để trưng bày, triểnlãm, nghiên cứu hoặc bảo quản được quy định như sau:
1.Đối với đi vật, cổ vật:
a.Di vật, cổ vật thuộc bảo tàng quốc gia do Bộ trưởng BộVăn hóa - Thôngtin cho phép theo đề nghị bằng văn bản của Giám đốc bảo tàng;
b.Di vật, cổ vật thuộc hảo tàng chuyển ngành do Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin cho phép theo đề nghị bằng văn bản của ngườiđứng đầu cơ quan, tổ chức chủ quản của bảo tàng trực thuộc;
c.Di vật, cổ vật thuộc bảo tàng cấp tỉnh do Bộ trưởng BộVăn hóa - Thôngtin cho phép theo đề nghị bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
d.Di vật, cổ vật thuộc sở hữu tư nhân do Bộ trưởng BộVăn hóa - Thôngtin cho phép theo đề nghị bằng văn bản của Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin trêncơ sở đơn xin phép của chủ sở hữu di vật, cổ vật đó.
2.Đối với bảo vật quốc gia:
a.Bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng quốc gia do Thủ tướng Chính phủ cho phéptheo đề nghị bằng văn bản của Bộ trưởng BộVăn hóa - Thôngtin;
b.Bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng chuyên ngành do Thủ tướng Chỉnh phủ cho phéptheo đề nghị bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ quản của bảotàng sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin;
c.Bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng cấp tỉnh, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu tư nhândo Thủ tướng Chính phủ cho phép theo đề nghị bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khicó ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng BộVăn hóa - Thôngtin.
3.Việc bảo hiểm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đưa ra nước ngoài để trưng bày,triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản do các bên thỏa thuận theo tập quán quốc tếvà điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
4.Việc vận chuyển, tạm xuất, tái nhập và tạm nhập, tái xuất di vật, cổ vật phảituân thủ những quy định của pháp luật về hải quan và những quy định khác củapháp luật có liên quan.