Điều 9.
1. Trong trường hợp cơ quan thi hành án chủ động thi hành án, nếu quá thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định đã được thi hành mà cơ quan, tổ chức được thi hành án, không đến nhận tài sản hoặc tiền bồi thường thiệt hại, thì cơ quan thi hành án nộp tài sản đã thu được vào ngân sách Nhà nước.
2. Trong trường hợp cơ quan thi hành án trả lại đơn yêu cầu thi hành án, nếu phát hiện người phải thi hành án đã có tài sản hoặc thu nhập để thi hành, thì người được thi hành án có quyền nộp đơn yêu cầu thi hành án và chứng minh điều kiện thi hành của người phải thi hành án. Trong trường hợp này, thời hiệu ba năm được tính từ ngày người phải thi hành án có tài sản hoặc thu nhập để thi hành.
3. Nếu người phải thi hành án không có tài sản để thi hành, thì người đó phải làm đơn trình bày, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về việc không có tài sản để thi hành án. Người được thi hành án có quyền cung cấp tài liệu, chứng minh việc người phải thi hành án có tài sản để thi hành. Cơ quan thi hành án có thể tiến hành xác minh tài sản, thu nhập của người phải thi hành án.
4. Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn yêu cầu thi hành án là ba năm, kể từ ngày việc thi hành bị ngừng.
5. Những sự kiện sau đây được coi là trở ngại khách quan làm cho người được thi hành án không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn:
a) Người được thi hành án không nhận được bản sao bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ;
b) Người được thi hành án vắng mặt ở nơi thi hành án trong một thời gian dài do yêu cầu công tác, chữa bệnh hoặc vì lý do khách quan khác; người được thi hành án chết mà chưa xác định được người thừa kế, trừ trường hợp quy định tại điểm 2 Điều 26 của Pháp lệnh Thi hành án dân sự;
c) Do thiên tai, hoả hoạn;
d) Do lỗi của cơ quan thi hành án.
6. Việc khôi phục thời hiệu thi hành án do Thủ trưởng cơ quan đã ra quyết định thi hành án xét và quyết định theo đơn của người được thi hành án kèm theo tài liệu chứng minh về trở ngại khách quan.