vanban.org

Điều 11. — Nghị định 69-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/10/2004 Thay thế: 173/2004/NĐ-CP · 30/09/2004
Chính phủ Ban hành 18/10/1993 Hiệu lực 18/10/1993 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 3 phiên bản · 32 năm
Nghị định số 173/2004/NĐ-CP Quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự · 173/2004/NĐ-CP
Nghị định số 69-CP Quy định thủ tục thi hành án dân sự 1993 · 69-CP
18/10/1993Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 69-CP › Chương II › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11.

1. Thủ trưởng cơ quan đã ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án có quyền hoãn thi hành án trong những trường hợp:

a) Người phải thi hành án ốm nặng mà theo bản án, quyết định thì người đó phải tự mình thực hiện. Việc hoãn thi hành án trong trường hợp này không áp dụng đối với việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản, nếu người phải thi hành án tuy ốm nặng mà vẫn có tài sản để thi hành án;

b) Người được thi hành án yêu cầu hoặc đồng ý cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành. Nếu người được thi hành án yêu cầu hoãn thi hành án, thì phải có đơn hoặc rút lại đơn yêu cầu thi hành án.

Nếu người phải thi hành án yêu cầu hoãn việc thi hành án mà được người được thi hành án đồng ý, thì việc đó phải được lập biên bản, có chữ ký của các đương sự. Đơn yêu cầu hoặc biên bản phải ghi rõ nội dung yêu cầu và thời hạn hoãn thi hành án. Thời hạn hoãn thi hành án được tính vào thời hiệu thi hành án.

Khi điều kiện hoãn thi hành án không còn thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục việc thi hành án.

2. Việc hoãn thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được áp dụng trong trường hợp cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án, mà chưa tổ chức việc cưỡng chế thi hành án.

3. Khi cần thiết, người có quyền kháng nghị bản án, quyết dịnh của Toà án được quyền yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án khi phát hiện bản án, quyết định của Toà án có vi phạm pháp luật, cần phải hoãn ngay việc thi hành để tránh hậu quả không thể khắc phục được và chỉ được thực hiện trước khi tiến hành việc cưỡng chế thi hành án.

Việc yêu cầu hoãn thi hành án phải được thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án, ghi rõ thời hạn hoãn thi hành án, nhưng không được quá ba tháng, kể từ ngày ra quyết định hoãn thi hành. Văn bản yêu cầu hoãn thi hành án phải do người có quyền kháng nghị ký. Trong trường hợp đã có văn bản mà cần thông báo ngay bằng điện thoại, điện tín, thì phải thông báo cho cơ quan thi hành án biết số, ngày, nội dung chủ yếu và người ký văn bản yêu cầu hoãn thi hành án.

Khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án, cơ quan thi hành án phải ra ngay quyết định hoãn thi hành án và thông báo cho người đã yêu cầu biết. Hết thời hạn ba tháng mà không có kháng nghị, thì cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục việc thi hành án và thông báo cho người đã yêu cầu hoãn thi hành án biết. Trong trường hợp nhận được yêu cầu hoãn thi hành án mà bản án, quyết định đã được thi hành xong, thì cơ quan thi hành án cần thông báo ngay cho người đã yêu cầu hoãn thi hành án biết.