vanban.org

Điều 4. — Nghị định 69-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/10/2004 Thay thế: 173/2004/NĐ-CP · 30/09/2004
Chính phủ Ban hành 18/10/1993 Hiệu lực 18/10/1993 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 3 phiên bản · 32 năm
Nghị định số 173/2004/NĐ-CP Quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự · 173/2004/NĐ-CP
Nghị định số 69-CP Quy định thủ tục thi hành án dân sự 1993 · 69-CP
18/10/1993Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 69-CP › Chương I › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4.

1. Trưởng Phòng thi hành án cấp tỉnh, Đội trưởng Đội thi hành án, Trưởng Phòng thi hành án quân khu có quyền ra các quyết định uỷ thác.

2. Phòng thi hành án cấp tỉnh trực tiếp tổ chức thi hành hoặc uỷ thác cho Phòng thi hành án cấp tỉnh nơi khác ra quyết định thi hành trong những trường hợp sau đây:

a) Thi hành bản án, quyết định về nhận người lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại mà người phải thi hành án là cơ quan Nhà nước cấp tỉnh trở lên;

b) Thi hành bản án, quyết định có nhân tố nước ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.

3. Trưởng Phòng thi hành án có thể uỷ thác cho Đội trưởng Đội thi hành án ra quyết định thi hành một phần bản án, quyết định trong những trường hợp sau đây:

a) Phần bản án, quyết định liên quan đến tài sản kê biên, tạm giữ và tang vật được Toà án chuyển giao thì Phòng thi hành án cấp tỉnh trực tiếp thi hành. Phần bản án, quyết định còn lại nếu Phòng thi hành án cấp tỉnh không có điều kiện trực tiếp thi hành thì phải uỷ thác cho Đội thi hành án ra quyết định thi hành;

b) Việc thi hành bản án, quyết định có liên quan đến nhiều quận, huyện trong tỉnh, thành phố hoặc ở các tỉnh, thành phố khác nhau.

4. Trưởng Phòng thi hành án quân khu có thể uỷ thác cho Trưởng Phòng thi hành án cấp tỉnh hoặc Đội trưởng Đội thi hành án và ngược lại.