vanban.org

Điều 8. — Nghị định 69-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/10/2004 Thay thế: 173/2004/NĐ-CP · 30/09/2004
Chính phủ Ban hành 18/10/1993 Hiệu lực 18/10/1993 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 3 phiên bản · 32 năm
Nghị định số 173/2004/NĐ-CP Quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự · 173/2004/NĐ-CP
Nghị định số 69-CP Quy định thủ tục thi hành án dân sự 1993 · 69-CP
18/10/1993Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 69-CP › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8.

1. Sau khi nhận bản sao bản án, quyết định của Toà án, đơn yêu cầu của người được thi hành án, cơ quan thi hành án phải vào Sổ nhận bản sao bản án, quyết định, Sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án.

Trong trường hợp người được thi hành án trực tiếp đến yêu cầu thi hành án, thì lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu, có chữ ký của đương sự, và vào Sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án.

Khi vào Sổ nhận bản sao bản án, quyết định, phải ghi rõ nội dung bản án, quyết định, nội dung biên bản kê biên, tạm giữ tài sản kèm theo tang vật (nếu có).

Khi vào Sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ nội dung yêu cầu và căn cứ để thi hành án.

2. Trong trường hợp cơ quan thi hành án chủ động thi hành án thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, quyết định của Toà án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra quyết định thi hành.

Trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra quyết định thi hành án.

Đối với mỗi bản án, quyết dịnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án có thể ra một hoặc nhiều quyết định thi hành án, theo từng khoản được thi hành của bản án, quyết định.

Đối với các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải ra ngay quyết định thi hành và phân công chấp hành viên thi hành quyết định.

3. Khi đã có quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án phải vào Sổ thụ lý thi hành án. Sổ thụ lý thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung của quyết định thi hành án và chấp hành viên được phân công thi hành án.

Thời hạn thụ lý việc thi hành án được tính từ ngày vào Sổ thụ lý thi hành án.

Sau khi nhận được quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của người được thi hành án, chấp hành viên phải vào Sổ thụ lý thi hành án và định cho người phải thi hành án thời hạn không quá ba mươi ngày để tự nguyện thi hành. Giấy báo việc tự nguyện thi hành án được sao gửi cho người được thi hành án. Nếu hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành, thì chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và phải sao gửi quyết định đó cho các đương sự.

4. Sổ nhận bản sao bản án, quyết định, Sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án, Sổ thụ lý thi hành án, Sổ uỷ thác thi hành án và các sổ sách khác về thi hành án được lập theo mẫu thống nhất do Bộ Tư pháp quy định.