vanban.org

Điều 17. — Nghị định 69-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 21/10/2004 Thay thế: 173/2004/NĐ-CP · 30/09/2004
Chính phủ Ban hành 18/10/1993 Hiệu lực 18/10/1993 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 3 phiên bản · 32 năm
Nghị định số 173/2004/NĐ-CP Quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự · 173/2004/NĐ-CP
Nghị định số 69-CP Quy định thủ tục thi hành án dân sự 1993 · 69-CP
18/10/1993Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 69-CP › Chương III › Điều 17
Đọc toàn văn

Điều 17.

1. Trong thời hạn không quá ba ngày, kể từ ngày các đương sự thoả thuận được về giá cả tài sản đã kê biên, chấp hành viên phải tiến hành bán tài sản theo giá cả đã thoả thuận.

2. Trong thời hạn không quá ba mươi ngày, kể từ ngày Hội đồng định giá đã định giá tài sản kê biên, chấp hành viên phải tổ chức bán đấu giá tài sản đó. Danh mục tài sản, thời gian và địa điểm bán đấu giá công khai phải niêm yết tại trụ sở cơ quan thi hành án và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có tài sản và thông báo cho đương sự chậm nhất là bảy ngày trước ngày bán đấu giá.

3. Việc bán đấu giá chỉ được tổ chức khi có từ hai người trở lên tham dự việc mua tài sản và những người đó không có quan hệ gia đình với nhau và với người tổ chức bán đấu giá.

Những người đã trực tiếp xét xử vụ án có tài sản được đưa ra bán đấu giá, thành viên của Hội đồng định giá, chấp hành viên, cán bộ làm công tác thi hành án không được tham gia mua tài sản bán đấu giá.

4. Đương sự được nộp tiền lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá trước khi người mua tài sản đấu giá hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu, nhưng phải thanh toán các chi phí cưỡng chế thực tế đã phát sinh và lãi suất cho người mua đấu giá (nếu có). Khi có nhiều tài sản được bán đấu giá mà tài sản bán được đã đủ để thi hành và thanh toán các chi phí phát sinh, thì chấp hành viên kết thúc việc bán đấu giá, trả tài sản còn lại cho người phải thi hành án.

5. Người mua tài sản bán đấu giá (trừ nhà ở) phải nộp ngay 2% giá trị tài sản và sau 15 ngày phải nộp đủ số tiền mua tài sản và được nhận tài sản. Nếu quá hạn đó mà không nộp đủ tiền, thì người mua không được lấy lại số tiền nộp trước, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

6. Khi tổ chức bán đấu giá, chấp hành viên có trách nhiệm:

a) Lập biên bản bán đấu giá thành hoặc bán đấu giá không thành;

b) Phải giao ngay cho người đã mua tài sản các giấy tờ cần thiết cho việc làm thủ tục chuyển dịch quyền sở hữu tài sản.

7. Đối với tài sản thuộc loại phải làm thủ tục chuyển dịch quyền sở hữu, căn cứ vào quyết định của Toà án, quyết định thi hành án và biên bản bán đấu giá thành, các cơ quan Nhà nước hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho người mua tài sản làm các thủ tục chuyển dịch, đăng ký quyền sở hữu tài sản đó.

8. Đối với tài sản không bán được, chấp hành viên yêu cầu người được thi hành án nhận; nếu người đó không nhận, thì chấp hành viên trả tài sản cho người phải thi hành án và quyết định áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập hoặc trừ vào tài sản khác của người phải thi hành án đang do người khác giữ, hoặc kê biên tài sản khác nếu có.