Điều 19. Trách nhiệm quản lý và xử lý nợ
1.Doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng Quy chế quản lý nợ của đơn vị, mở sổ sáchtheo dõi nợ theo chế độ hiện hành, phân công cán bộ quản lý các khoản nợ, thườngxuyên đối chiếu, đôn đốc và chủ động tìm mọi biện pháp để thu hồi các khoảncông nợ; kịp thời thanh toán các khoản nợ phải trả đã đến hạn không để tìnhtrạng nợ nần dây dưa tái diễn.
2.Trường hợp không thu hồi được các khoản nợ phải thu quá hạn, doanh nghiệp phảiphân tích nguyên nhân chủ quan, khách quan, xác định trách nhiệm của cá nhân,tập thể để xử lý bồi thường vật chất. Nếu do tranh chấp hợp đồng chưa được xửlý thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm tìm biệnpháp giải quyết dứt điểm. Doanh nghiệp phải trích lập dự phòng nợ đối với cáckhoản nợ phải thu khó đòi và xử lý các khoản nợ phải thu không có khả năng thuhồi theo quy định của Nghị định này.
3.Các khoản nợ phát sinh sau ngày 31 tháng 12 năm 2000, doanh nghiệp phải giảiquyết dứt điểm khi đến hạn trả, không để tồn đọng. Người đại diện theo phápluật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm nếu để phát sinh nợ tồn đọng. Riêng nợphải thu khó đòi, doanh nghiệp phải chủ động xử lý theo các quy định của phápluật, không để tồn đọng quá 03 năm.
4.Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc (đối với doanh nghiệp không có Hội đồng quảntrị) thực hiện việc xử lý các khoản nợ phải thu quá hạn, không có khả năng thuhồi theo các quy định trên và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xử lýcủa mình. Đối với các doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi, việc xử lý giảm giátrị doanh nghiệp, giảm giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Giám đốcdoanh nghiệp phải báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giá trịdoanh nghiệp quyết định theo quy định.