Điều 11. Các khoản nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước
1.Doanh nghiệp nhà nước thực hiện dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền phêduyệt, nhưng do thiếu vốn nên đã chiếm dụng tiền thuế và các khoản phải nộpngân sách nhà nước từ ngày 31 tháng 12 năm 1999 trở về trước để thực hiện dự ánđầu tư, đến nay vẫn không có khả năng thanh toán, nếu công trình đầu tư đã hoànthành đưa vào sử dụng thì số thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước màdoanh nghiệp đã sử dụng vào các công trình đó được bổ sung vốn đầu tư của doanhnghiệp.
2.Doanh nghiệp nhà nước thuộc đối tượng giao, bán theo Nghị định số103/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 1999 và Nghị định số 49/2002/NĐ-CP ngày 24tháng 4 năm 2002 của Chính phủ mà các khoản phải trả lớn hơn giá trị tài sảncủa doanh nghiệp hoặc lớn hơn số tiền thu từ bán doanh nghiệp thì được xem xétxoá nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách.
3.Doanh nghiệp nhà nước sáp nhập vào doanh nghiệp nhà nước khác theo quyết địnhcủa cơ quan có thẩm quyền, sau khi áp dụng các biện pháp hỗ trợ về tài chính,tín dụng mà doanh nghiệp nhận sáp nhập vẫn không có khả năng thanh toán nợ thuếvà các khoản phải nộp ngân sách nhà nước thì được xoá số nợ thuế và các khoảnphải nộp ngân sách nhà nước tối đa bằng số lỗ của doanh nghiệp sáp nhập.
4.Doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh bị lỗ, còn nợ thuế và các khoản phảinộp ngân sách nhà nước từ ngày 31 tháng 12 năm 1998 trở về trước do các nguyênnhân thay đổi cơ chế chính sách, do thiên tai gây thiệt hại, do thiếu vốn đầu tưđổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị, do khó khăn về giải quyết sắp xếp laođộng, nếu doanh nghiệp không thuộc loại phải giải thể, phá sản, sáp nhập, saukhi đã áp dụng các biện pháp miễn thuế, giảm thuế, hỗ trợ về tài chính, tíndụng và các biện pháp khác mà doanh nghiệp vẫn còn lỗ và không có khả năngthanh toán nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước khác thì được xoásố nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước tối đa bằng số lỗ của doanhnghiệp tính đến thời điểm xử lý xoá nợ.
5.Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu bị truy thu tiền thuế,tiền phạt về thuế đối với hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu do nguyênnhân khách quan thì được xem xét xoá nợ tiền thuế, tiền phạt bị truy thu chotừng trường hợp cụ thể.
6.Đối với những doanh nghiệp đã có quyết định thực hiện chuyển đổi còn nợ thuế vàcác khoản phải nộp ngân sách nhà nước, sau khi đã xử lý nợ phải thu mà doanhnghiệp vẫn không có khả năng thanh toán nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sáchdo bị thua lỗ thì được xem xét xoá nợ cho doanh nghiệp tối đa bằng số lỗ phátsinh đến thời điểm có quyết định chuyển đổi.
7.Trường hợp doanh nghiệp ứng tiền của ngân sách để mua hàng xuất khẩu trả nợ nướcngoài, xuất khẩu lấy ngoại tệ lập quỹ dự trữ Nhà nước, hoặc để mua hàng hóa dựtrữ lưu thông, nhưng do biến động giá cả, doanh nghiệp không mua đủ quỹ hànghóa theo quy định, đến thời điểm ban hành Nghị định này mà đang ghi nợ phải trảngân sách số nợ đó, đã kê khai và được Ban Thanh toán nợ tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương hoặc Bộ, ngành quản lý xác nhận thì được xóa nợ.
8.Trường hợp doanh nghiệp nợ ngân sách nhà nước tiền hàng nhập khẩu theo Nghịđịnh thư của Chính phủ do bán hàng chưa thu được tiền, hoặc đã thu được tiền nhưngchưa nộp đủ vào ngân sách thì được xử lý như sau:
a)Trường hợp doanh nghiệp đã bán trả chậm hàng hoá cho các đơn vị theo chỉ đạo vàquy định của nhà nước đến nay không thu được tiền thì xem xét cho xoá nợ.
b)Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa theo Nghị định thư không phù hợp vớiyêu cầu thị trường, phải giảm giá bán thấp hơn so với giá đã nhận của Nhà nướcmà bị lỗ nhưng chưa được xử lý thì được xem xét xóa nợ tương đương với chênhlệch do giá bán thấp hơn so với giá đã nhận với nhà nước nhưng không vượt quásố lỗ phát sinh chưa được xử lý.
9.Đối với các khoản vay của ngân sách nhà nước, doanh nghiệp có trách nhiệm trảnợ cho ngân sách nhà nước theo quy định. Nếu không trả được nợ do nguyên nhân kháchquan doanh nghiệp báo cáo cơ quan có thẩm quyền để giải quyết từng trường hợpcụ thể theo quy định của pháp luật.