Điều 36. Thủ tục xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do các tổ chức, cá nhân chuyển giao quyền sở hữu cho Đảng
1. Đối với tài sản do tổ chức, cá nhân tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Đảng thông qua hợp đồng tặng cho hoặc hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác quy định tại Điều 223 Bộ Luật Dân sự và các quy định của pháp luật khác có liên quan (nếu có) thì không phải thực hiện thủ tục xác lập quyền sở hữu về tài sản theo quy định tại Nghị định này. Việc nhận tài sản tặng cho phải đáp ứng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
Trường hợp tài sản do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu là vật tiêu hao thì cơ quan, đơn vị của Đảng tiếp nhận có trách nhiệm quản lý, sử dụng để thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; không phải làm thủ tục xác lập quyền sở hữu và không phải lập, phê duyệt phương án xử lý tài sản theo quy định tại mục này.
2. Đối với tài sản do tổ chức, cá nhân tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Đảng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thủ tục xác lập quyền sở hữu thực hiện như sau:
a) Khi được các tổ chức, cá nhân đề nghị chuyển giao quyền sở hữu về tài sản cơ quan, đơn vị được đề nghị tiếp nhận tài sản căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật, xác định tính phù hợp của việc tiếp nhận tài sản chuyển giao và phải chịu trách nhiệm về việc xác định đó.
b) Trường hợp xác định việc tiếp nhận tài sản chuyển giao là phù hợp với quy định của pháp luật thì trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận tài sản, cơ quan, đơn vị tiếp nhận tài sản có trách nhiệm lập 01 bộ hồ sơ, gửi cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) để trình cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 35 Nghị định này quyết định xác lập quyền sở hữu về tài sản.
Hồ sơ đề nghị xác lập quyền sở hữu về tài sản bao gồm:
Tờ trình đề nghị xác lập quyền sở hữu về tài sản: bản chính;
Bảng kê loại tài sản, số lượng, khối lượng, giá trị (nếu có), hiện trạng của tài sản: bản chính;
Các hồ sơ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng của tài sản chuyển giao và hình thức chuyển giao (nếu có): bản sao.
c) Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ quy định tại điểm b khoản này, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại Điều 35 Nghị định này xem xét, ban hành Quyết định xác lập quyền sở hữu về tài sản.
d) Trường hợp xác định việc chuyển giao tài sản không phù hợp với quy định của pháp luật thì cơ quan, đơn vị được đề nghị tiếp nhận phải từ chối tiếp nhận; trường hợp không từ chối được thì xử lý theo quy định tại điểm b, điểm c khoản này.