Điều 30. Thanh lý tài sản tại cơ quan, đơn vị của Đảng
1. Tài sản tại cơ quan, đơn vị của Đảng được thanh lý trong các trường hợp sau đây:
a) Tài sản hết hạn sử dụng theo quy định của pháp luật (hết thời gian sử dụng để tính hao mòn tài sản theo chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc hết niên hạn sử dụng, tần suất sử dụng theo quy định của pháp luật).
b) Tài sản chưa hết hạn sử dụng nhưng bị hư hỏng mà không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa không hiệu quả (dự kiến chi phí sửa chữa lớn hơn 30% nguyên giá trong trường hợp xác định được nguyên giá hoặc lớn hơn 30% giá trị đầu tư xây dựng, mua sắm mới tài sản cùng loại hoặc có tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, xuất xứ tương đương tại thời điểm thanh lý trong trường hợp không xác định được nguyên giá).
c) Nhà, công trình hoặc tài sản khác gắn liền với đất phải phá dỡ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Tài sản tại cơ quan, đơn vị của Đảng được thanh lý theo các hình thức sau đây:
a) Phá dỡ, hủy bỏ. Vật liệu, vật tư thu hồi từ phá dỡ, hủy bỏ còn sử dụng được thì điều chuyển, bán hoặc tiếp tục sử dụng nếu có nhu cầu; việc xử lý vật liệu, vật tư thu hồi từ phá dỡ, hủy bỏ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định này.
b) Bán. Việc thanh lý theo hình thức bán không áp dụng đối với tài sản là quyền sử dụng đất, nhà, công trình gắn liền với đất.
3. Thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị định này.
4. Trình tự, thủ tục và việc tổ chức thanh lý tài sản tại cơ quan, đơn vị của Đảng thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh lý tài sản công áp dụng đối với cơ quan nhà nước quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Nghị định số 186/2025/NĐ-CP; trong đó, cơ quan quản lý cấp trên của cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản được xác định là đơn vị dự toán cấp trên (nếu có) của cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản.
5. Trường hợp phải phá dỡ, hủy bỏ tài sản để thực hiện dự án đầu tư theo dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt (tài sản phải phá dỡ, hủy bỏ thể hiện trên bản vẽ thiết kế cơ sở hoặc thiết kế bản vẽ thi công hoặc trên hồ sơ dự án hoặc trên quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật hoặc trên quyết định phê duyệt dự án) hoặc để giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất thì cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản không phải thực hiện thủ tục báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản. Việc phá dỡ, hủy bỏ tài sản được thực hiện như sau:
a) Phá dỡ, hủy bỏ tài sản để thực hiện dự án đầu tư theo dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt:
Trường hợp cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản là chủ đầu tư thực hiện dự án thì trên cơ sở nội dung phá dỡ, hủy bỏ tài sản hoặc giải phóng mặt bằng theo dự án đã được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt, cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản tổ chức thực hiện việc phá dỡ, hủy bỏ theo quy định áp dụng đối với cơ quan nhà nước và nội dung dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt; việc xử lý vật tư, vật liệu thu hồi từ việc phá dỡ, hủy bỏ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định này;
Trường hợp cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản không phải là chủ đầu tư thực hiện dự án thì cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản có trách nhiệm bàn giao tài sản cho Ban Quản lý dự án/Chủ đầu tư thực hiện dự án; việc bàn giao được lập thành Biên bản. Căn cứ Biên bản bàn giao tài sản, cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản thực hiện hạch toán giảm tài sản theo quy định. Ban Quản lý dự án/Chủ đầu tư thực hiện dự án có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc phá dỡ, hủy bỏ tài sản để thực hiện dự án theo quy định áp dụng đối với cơ quan nhà nước và dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt; việc xử lý vật tư, vật liệu thu hồi từ việc phá dỡ, hủy bỏ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định này;
Chi phí phá dỡ, hủy bỏ được tính vào chi phí thực hiện dự án; số tiền thu được từ việc xử lý vật tư, vật liệu thu hồi (nếu có) được quản lý, sử dụng theo dự án được phê duyệt (trong trường hợp dự án có quy định về việc quản lý số tiền thu được từ xử lý vật tư, vật liệu thu hồi) hoặc được nộp ngân sách nhà nước (trong trường hợp dự án không có quy định về việc quản lý số tiền thu được từ xử lý vật tư, vật liệu thu hồi).
b) Phá dỡ, hủy bỏ tài sản để giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất:
Cơ quan, đơn vị của Đảng có tài sản thanh lý có trách nhiệm bàn giao tài sản phải phá dỡ, hủy bỏ cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; việc bàn giao được lập thành Biên bản. Căn cứ Biên bản bàn giao tài sản, cơ quan, đơn vị của Đảng có tài sản thanh lý thực hiện hạch toán giảm tài sản theo quy định; tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và xử lý tài sản theo quy định của pháp luật về đất đai.
6. Trường hợp nhà, công trình được xây dựng để sử dụng tạm thời trong khoảng thời gian nhất định theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền hoặc theo dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt thì sau khi hết thời gian sử dụng tạm thời, cơ quan, đơn vị của Đảng quản lý, sử dụng tài sản hoặc Ban quản lý dự án/Chủ đầu tư (trong trường hợp cơ quan, đơn vị của Đảng được giao quản lý, sử dụng tài sản không phải là chủ đầu tư thực hiện dự án) có trách nhiệm tổ chức thực hiện phá dỡ, hủy bỏ theo quy định áp dụng đối với cơ quan nhà nước; không phải thực hiện thủ tục báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản theo quy định tại Điều này. Việc xử lý vật tư, vật liệu thu hồi từ việc phá dỡ, hủy bỏ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định này.