vanban.org

Điều 23 — Nghị định 45/HĐBT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 18/05/1996 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 18/05/1996 Thay thế: 31/CP · 18/05/1996
Hội đồng Bộ trưởng Ban hành 27/02/1991 Hiệu lực 27/02/1991 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời nghị định · 9 phiên bản · 35 năm
Nghị định số 23/2015/NĐ-CP Về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch · 23/2015/NĐ-CP
Nghị định số 75/2000/NĐ-CP Về công chứng, chứng thực · 75/2000/NĐ-CP
Nghị định số 31/CP Về tổ chức và hoạt động Công chứng Nhà nước 1996 · 31/CP
Nghị định số 45/HĐBT Về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước 1991 · 45/HĐBT
18/05/199631/CPThay thế Đang xem 27/02/1991Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 45/HĐBT › Chương III › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23

Chứng nhận giấy uỷ quyền.

Người uỷ quyền phải trực tiếp đến yêu cầu công chứng.

Trong giấy uỷ quyền phải ghi rõ người uỷ quyền và người được uỷ quyền, nội dung và thời hạn uỷ quyền. Việc chấm dứt uỷ quyền trứơc thời hạn do người uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền yêu cầu cũng phải thực hiện công chứng.

Trường hợp pháp luật quy định được uỷ quyền lại thì giấy uỷ quyền lại phải được người uỷ quyền đồng ý và cũng phải thực hiện công chứng. Giấy uỷ quyền đó phải phù hợp về nội dung và thời hạn của giấy uỷ quyền ban đầu.