vanban.org

Điều 13. Quan hệ phối hợp trong chuẩn bị đề án — Nghị định 23/2003/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/12/2007 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 26/12/2007 Thay thế: 179/2007/NĐ-CP · 03/12/2007 Sửa đổi, bổ sung: 144/2005/NĐ-CP · 16/11/2005
Chính phủ Ban hành 12/03/2003 Hiệu lực 18/04/2003 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời nghị định · 6 phiên bản · 23 năm
Nghị định số 08/2012/NĐ-CP Ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ · 08/2012/NĐ-CP
Nghị định số 179/2007/NĐ-CP Ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ · 179/2007/NĐ-CP
Nghị định số 23/2003/NĐ-CP Ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ · 23/2003/NĐ-CP
26/12/2007179/2007/NĐ-CPThay thế Đang xem 11/12/2005144/2005/NĐ-CPSửa đổi 18/04/2003Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 23/2003/NĐ-CP › Chương 2 › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Quan hệ phối hợp trong chuẩn bị đề án

1. Sự phối hợp trong khâu chuẩn bị đề án trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là trách nhiệm của chủ đề án và Thủ trưởng các cơ quan liên quan.

2. Chủ đề án mời Thủ trưởng các cơ quan có liên quan đến bàn việc chuẩn bị đề án hoặc cử cán bộ tham gia chuẩn bị đề án. Cơ quan được mời có trách nhiệm cử người tham gia theo đề nghị của chủ đề án. Người được cử là đại diện của cơ quan tham gia chuẩn bị đề án phải thường xuyên báo cáo và xin ý kiến Thủ trưởng cơ quan trong quá trình tham gia xây dựng đề án.

Các hoạt động phối hợp xây dựng đề án trên đây không thay thế được các thủ tục xin ý kiến chính thức quy định tại Khoản 3 Điều này.

3. Sau khi đề án đã được chuẩn bị xong, chủ đề án phải lấy ý kiến chính thức của các cơ quan liên quan bằng một trong hai hình thức sau đây:

a) Tổ chức họp: Chủ đề án gửi giấy mời và tài liệu cho các cơ quan được mời ít nhất 5 ngày làm việc trước ngày họp. Thủ trưởng cơ quan chủ đề án chủ trì cuộc họp, giới thiệu nội dung và thu thập ý kiến để bổ sung hoàn chỉnh đề án, những ý kiến thảo luận phải được ghi vào biên bản có chữ ký của chủ tọa cuộc họp.

Cơ quan được mời họp phải cử đại diện có đủ thẩm quyền đến họp, phát biểu ý kiến của Thủ trưởng cơ quan (nếu có) và phải báo cáo đầy đủ kết luận cuộc họp cho Thủ trưởng cơ quan biết. Trường hợp đại diện cơ quan được mời vắng mặt, chủ đề án gửi phần kết luận có liên quan cho cơ quan đó. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được công văn, Thủ trưởng cơ quan được hỏi ý kiến phải trả lời bằng văn bản. Nếu quá thời hạn trên, Thủ trưởng cơ quan được hỏi ý kiến không trả lời thì coi như đồng ý với đề án và phải chịu trách nhiệm về các nội dung có liên quan.

Điểm b Khoản 3 Điều 13 đã bị bãi bỏ bởi 144/2005/NĐ-CP, hiệu lực từ 11/12/2005. Xem nội dung trước khi bị bãi bỏ

c) Đối với việc chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh, ngoài tuân theo các quy định tại Quy chế này còn phải thực hiện theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.