vanban.org

Điều 12. Kế hoạch chuẩn bị các đề án — Nghị định 23/2003/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/12/2007 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 26/12/2007 Thay thế: 179/2007/NĐ-CP · 03/12/2007 Sửa đổi, bổ sung: 144/2005/NĐ-CP · 16/11/2005
Chính phủ Ban hành 12/03/2003 Hiệu lực 18/04/2003 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời nghị định · 6 phiên bản · 23 năm
Nghị định số 08/2012/NĐ-CP Ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ · 08/2012/NĐ-CP
Nghị định số 179/2007/NĐ-CP Ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ · 179/2007/NĐ-CP
Nghị định số 23/2003/NĐ-CP Ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ · 23/2003/NĐ-CP
26/12/2007179/2007/NĐ-CPThay thế Đang xem 11/12/2005144/2005/NĐ-CPSửa đổi 18/04/2003Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 23/2003/NĐ-CP › Chương 2 › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Kế hoạch chuẩn bị các đề án

1. Căn cứ chương trình công tác năm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan (hoặc nhóm chuyên gia được Thủ tướng, Phó Thủ tướng giao nhiệm vụ) chủ trì đề án (gọi tắt là chủ đề án) phải lập kế hoạch chuẩn bị các đề án, trong đó xác định rõ danh mục các vấn đề cần phải hướng dẫn thi hành khi văn bản hoặc vấn đề chính được thông qua, phạm vi của từng đề án, các cơ quan phối hợp; bảo đảm thời hạn trình đề án đã được ấn định và gửi kế hoạch chuẩn bị các đề án đến Văn phòng Chính phủ để theo dõi, đôn đốc thực hiện.

Đối với các dự thảo luật, pháp lệnh, việc lập kế hoạch thực hiện theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

2. Nếu chủ đề án muốn thay đổi yêu cầu, phạm vi giải quyết vấn đề của đề án hoặc thời hạn trình thì phải báo cáo và được sự đồng ý của Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng phụ trách lĩnh vực đó.