vanban.org

Điều 101. Cảng nhận hàng và nơi bốc hàng — Bộ luật Hàng hải Việt Nam số 40/2005/QH11

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2017 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/01/2019 Thay thế: 95/2015/QH13 · 25/11/2015
Quốc hội Ban hành 14/06/2005 Hiệu lực 01/01/2006 Hết hiệu lực toàn bộ 44 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời bộ luật · 7 phiên bản · 35 năm
Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 · 40/2005/QH11
01/01/201935/2018/QH14Sửa đổi, bổ sung Đang xem 01/07/201795/2015/QH13Sửa đổi 01/01/2006Bản gốcThay thế
Bộ luật Hàng hải 1990 · 42-LCT/HĐNN8
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Bộ luật 40/2005/QH11 › Chương V › Mục 3 › Điều 101
Đọc toàn văn

Điều 101. Cảng nhận hàng và nơi bốc hàng

1. Người vận chuyển có nghĩa vụ đưa tàu biển đến cảng nhận hàng trong trạng thái sẵn sàng để nhận hàng đúng thời điểm và địa điểm; lưu tàu biển tại nơi bốc hàng theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá.

2. Người vận chuyển đưa tàu biển đến nơi bốc hàng do người thuê vận chuyển chỉ định. Nơi bốc hàng phải an toàn, không gây trở ngại cho việc tàu biển vào, ra, chờ đợi cùng với hàng hoá. Trong trường hợp có nhiều người thuê vận chuyển mà họ không thoả thuận được về nơi bốc hàng hoặc khi người thuê vận chuyển không chỉ định rõ nơi bốc hàng thì người vận chuyển đưa tàu biển đến địa điểm được coi là nơi bốc hàng theo tập quán địa phương.

3. Trường hợp trong hợp đồng không có thoả thuận cụ thể về nơi bốc hàng tại cảng nhận hàng thì người vận chuyển đưa tàu biển đến địa điểm được coi là nơi bốc hàng theo tập quán địa phương.

4. Người thuê vận chuyển có thể yêu cầu người vận chuyển thay đổi nơi bốc hàng, mặc dù nơi bốc hàng đã được ghi rõ trong hợp đồng. Người thuê vận chuyển phải thanh toán đầy đủ các chi phí liên quan đến việc thực hiện yêu cầu này.