Điều 5. Trường hợp trưng cầu giám định tư pháp
1. Cơ quan, người có thẩm quyền trưng cầu giám định bắt buộc trưng cầu giám định đối với các trường hợp quy định tại Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Việc trưng cầu giám định bổ sung, trưng cầu giám định lại hoặc trưng cầu Hội đồng giám định được thực hiện theo quy định tại các điều 210, 211 và 212 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 32 và Điều 33 Luật Giám định tư pháp.
3. Việc trưng cầu giám định theo yêu cầu của đương sự hoặc người đại diện của họ theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Cơ quan, người có thẩm quyền trưng cầu giám định căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã thu thập được, quy định của pháp luật về những vấn đề phải chứng minh trong vụ việc, vụ án hình sự và danh mục lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành giám định do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý chuyên môn lĩnh vực giám định tư pháp ban hành để quyết định trưng cầu giám định; trường hợp cần thiết, có thể trao đổi với tổ chức, cá nhân dự kiến được trưng cầu giám định hoặc cơ quan, tổ chức chuyên môn để có cơ sở quyết định việc trưng cầu giám định.
5. Cơ quan, người có thẩm quyền trưng cầu giám định không trưng cầu nếu chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ việc, vụ án đã làm rõ những vấn đề phải chứng minh; trường hợp cần thêm thông tin chuyên môn để xem xét, đánh giá thì trao đổi trực tiếp, tổ chức họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản của tổ chức, cá nhân có liên quan.
6. Trường hợp nội dung trưng cầu giám định liên quan đến nhiều lĩnh vực, thuộc trách nhiệm của nhiều tổ chức thì thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Luật Giám định tư pháp.
7. Trường hợp phát sinh vướng mắc trong việc trưng cầu giám định thì thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 26 Luật Giám định tư pháp.