vanban.org

Điều 12. Quyền yêu cầu giám định tư pháp — Thông tư liên tịch 02/2026/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/05/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 02/2026/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC › Chương III › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Quyền yêu cầu giám định tư pháp

1. Người có quyền yêu cầu giám định

a) Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự;

b) Người đại diện của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

2. Phạm vi quyền yêu cầu giám định trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự

a) Quyền yêu cầu giám định chỉ phát sinh sau khi người có quyền yêu cầu giám định đã đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền trưng cầu giám định thực hiện trưng cầu giám định nhưng bị từ chối bằng văn bản hoặc hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận được văn bản đề nghị nhưng không ra quyết định trưng cầu giám định;

b) Nội dung yêu cầu giám định chỉ được giới hạn trong những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền yêu cầu giám định; không yêu cầu giám định những vấn đề liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội;

c) Người yêu cầu giám định chỉ lựa chọn tổ chức giám định tư pháp công lập, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc có chuyên môn phù hợp để yêu cầu giám định trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự.