Điều 17. Quản lý nhiệm vụ hợp tác quốc tế về KH&CN
1. Đối với nhiệm vụ hợp tác quốc tế về KH&CN được cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt và giao cho tổ chức KH&CN thực hiện và các nhiệm vụ hợp tác quốc tế theo điều ước quốc tế và thoả thuận quốc tế hoặc được các tổ chức và cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ dưới các hình thức: hỗ trợ tài chính, hiện vật, cung cấp trang thiết bị, công nghệ (máy móc, bí quyết vận hành), vật tư (hàng hoá, giống cây, giống con và vi sinh vật), nghiên cứu phát triển, hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp chuyên gia và đào tạo (các nhiệm vụ hợp tác quốc tế theo hiệp định, thoả thuận koặc cam kết quốc tế về viện trợ) thì cá nhân, tổ chức chủ trì nhiệm vụ có trách nhiệm tuân thủ các quy định hiện hành cuả nhà nước về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ phi Chính phủ nước ngoài (Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ Ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức; Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi Chính phủ nước ngoài và các Thông tư hướng dẫn thực hiện các Nghị định này).
2. Đối với nhiệm vụ hợp tác quốc tế do tổ chức KH&CN hoặc cá nhân tự xây dựng theo thỏa thuận với đối tác, thủ trưởng tổ chức KH&CN căn cứ hợp đồng với đối tác phê duyệt thuyết minh, dự toán đề tài dự án hợp tác quốc tế, thực hiện đóng góp các khoản thuế theo quy định hiện hành, báo cáo nội dung hợp tác cho cơ quan quản lý có thẩm quyền.