Điều 16. Chế tài xử lý đối với các đề tài, dự án không hoàn thành
1. Đề tài, dự án không hoàn thành là đề tài, dự án thuộc một trong các loại sau đây:
a) Bị đình chỉ trong quá trình thực hiện theo quyết định của cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án do sai phạm hoặc không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ;
b) Có kết quả được đánh giá nghiệm thu ở mức “không đạt” tại Hội đồng nghiệm thu ở cấp quản lý đề tài, dự án và không được cơ quan quản lý có thẩm quyền cho phép gia hạn thời gian thực hiện để hoàn chỉnh kết quả.
2. Việc xử lý đề tài, dự án không hoàn thành được quy định như sau:
a) Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xác định đề tài không hoàn thành của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, chủ trì đề tài, dự án, tổ chức chủ trì lập báo cáo chi tiết toàn bộ quá trình thực hiện (nội dung hoạt động và sử dụng kinh phí) của đề tài, dự án; xác định rõ các nguyên nhân (chủ quan, khách quan) gửi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của cá nhân chủ nhiệm và tổ chức chủ trì, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án chịu trách nhiệm kiểm tra, xác định nguyên nhân dẫn đến việc đề tài không hoàn thành;
b) Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sau khi kiểm tra, xác định nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan dẫn đến việc các đề tài, dự án không hoàn thành để ra quyết định xử lý, cụ thể như sau:
- Nộp hoàn trả ngân sách nhà nước toàn bộ kinh phí của đề tài, dự án đã được cấp nhưng chưa sử dụng;
- Đối với phần kinh phí của ngân sách nhà nước đã sử dụng, được xử lý như sau:
+ Trường hợp do nguyên nhân chủ quan: Tổng mức thu hồi tối thiểu không thấp hơn 30% kinh phí ngân sách nhà nước cấp đã sử dụng cho đề tài, dự án;
+ Trường hợp do nguyên nhân khách quan: Tổng mức thu hồi tối đa không quá 10% kinh phí ngân sách nhà nước cấp đã sử dụng cho đề tài, dự án;
+ Mức thu hồi cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án xem xét quyết định, trong đó cá nhân chủ nhiệm nộp trả 70%, tổ chức chủ trì nộp trả 30% , tổ chức chủ trì có trách nhiệm thu phần nộp trả của cá nhân chủ nhiệm cộng với phần nộp trả của mình và nộp đủ một lần cho cơ quan quản lý, nếu tổ chức chủ trì không thu được phần giao nộp của cá nhân chủ nhiệm thì chịu trách nhiệm nộp trả thay cho cá nhân chủ nhiệm.
- Thời hạn hoàn trả trong vòng 90 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án có quyết định về việc nộp hoàn trả kinh phí cho ngân sách nhà nước.
- Tổ chức chủ trì tổng hợp tình hình thực hiện việc thu hồi kinh phí hoàn trả ngân sách nhà nước vào báo cáo quyết toán hàng năm của đơn vị mình gửi cơ quan chủ quản cấp trên để tổng hợp gửi cơ quan tài chính cùng cấp theo quy định;
c) Đối với đề tài hội đồng nghiệm thu của cấp có thẩm quyền xếp loại "không đạt":
- Cơ quan có thẩm quyền thông báo cho cá nhân chủ nhiệm, tổ chức chủ trì về kết quả “không đạt” và lý do hội đồng nghiệm thu đã nêu ra.
- Trong vòng 2 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền thông báo kết quả “không đạt”, cá nhân chủ nhiệm nếu thấy không thỏa đáng có thể giải trình bằng văn bản và có ý kiến của tổ chức chủ trì bằng văn bản.
- Trường hợp cá nhân chủ nhiệm có văn bản giải trình, cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định trong vòng 30 ngày từ ngày nhận văn bản giải trình.
- Khi cơ quan có thẩm quyền quyết định đề tài, dự án “không đạt” bằng văn bản, việc xử lý thu hồi kinh phí thực hiện như đề tài không hoàn thành do chủ quan nêu ở trên.