vanban.org

Điều 12. Về sử dụng kinh phí tiết kiệm của đề tài, dự án — Thông tư 67/2010/TT-BNNPTNT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 06/12/2013 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 06/12/2013 Thay thế: 43/2013/TT-BNNPTNT · 22/10/2013
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ban hành 17/11/2010 Hiệu lực 01/01/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư · 5 phiên bản · 15 năm
Thông tư số 43/2013/TT-BNNPTNT Hướng dẫn thực hiện quản lý nhiệm vụ khoa học công nghệ, quản lý tài chính của nhiệm vụ khoa học công nghệ và công tác tổ chức cán bộ của các tổ chức khoa học công nghệ công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn · 43/2013/TT-BNNPTNT
Thông tư số 67/2010/TT-BNNPTNT Hướng dẫn thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học công nghệ công lập thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn · 67/2010/TT-BNNPTNT
06/12/201343/2013/TT-BNNPTNTThay thế Đang xem 01/01/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 67/2010/TT-BNNPTNT › Chương III › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Về sử dụng kinh phí tiết kiệm của đề tài, dự án

1. Kinh phí tiết kiệm là chênh lệch giữa tổng dự toán kinh phí được duyệt so với tổng kinh phí thực tế chi tiêu của đề tài, dự án đã được phê duyệt quyết toán;

2. Kinh phí tiết kiệm phải được tổ chức chủ trì phản ánh tại báo cáo quyết toán sau cùng của từng đề tài, dự án. Tổ chức chủ trì làm thủ tục nghiệm thu cấp cơ sở, tổ chức quyết toán tài chính đề tài, dự án và xác định số kinh phí tiết kiệm được trước ngày 31 tháng 12, lập bảng kê, báo cáo quyết toán với kho bạc nhà nước và đề nghị cho rút kinh phí được xác định là số kinh phí tiết kiệm.

3. Xử lý kinh phí tiết kiệm:

- Kinh phí tiết kiệm từ phần được giao khoán được sử dụng để khen thưởng tập thể, cá nhân trực tiếp tham gia thực hiện đề tài, dự án theo các quy định cụ thể tại Thông tư 93. Mức thưởng cụ thể cho từng cá nhân do cá nhân chủ nhiệm đề xuất thủ trưởng cơ quan chủ trì quyết định.

- Kinh phí tiết kiệm từ phần không giao khoán được trích vào Quỹ phát triển sự nghiệp. Trưởng hợp tổ chức chủ trì không có thì nộp ngân sách nhà nước.