Điều 15. Rà soát, cập nhật và quản lý phiên bản học liệu số
1. Cơ quan quản lý học liệu số có trách nhiệm theo dõi, rà soát học liệu số và tiếp nhận phản hồi của người học và cơ quan, đơn vị sử dụng; định kỳ hoặc khi cần thiết rà soát học liệu số để bảo đảm tính chính xác, cập nhật, phù hợp với yêu cầu bồi dưỡng và hiệu quả sử dụng.
2. Học liệu số phải được xem xét rà soát, cập nhật khi thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Chủ trương, chính sách, pháp luật, quy trình hoặc nghiệp vụ có liên quan thay đổi;
b) Nội dung không còn phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm hoặc thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, công vụ, hoạt động nghề nghiệp;
c) Phát hiện sai sót về nội dung, kỹ thuật; phát sinh vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ, an toàn thông tin, dữ liệu cá nhân hoặc bí mật nhà nước;
d) Kết quả đánh giá, phản hồi trong quá trình khai thác cho thấy cần chỉnh sửa, bổ sung để nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng.
3. Việc cập nhật học liệu số phải xác định phiên bản, thời điểm cập nhật, nội dung thay đổi và cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm; bảo đảm khả năng truy xuất lịch sử phiên bản.
4. Trường hợp việc cập nhật làm thay đổi cơ bản mục tiêu, nội dung chuyên môn, đối tượng hoặc phạm vi sử dụng của học liệu số thì phải thực hiện thẩm định, phê duyệt lại theo quy định tại Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Thông tư này trước khi đưa phiên bản mới vào sử dụng.
5. Đối với học liệu số dùng chung, phiên bản mới đã được phê duyệt được gửi đến cơ quan, đơn vị quản lý kho học liệu số dùng chung để thay thế phiên bản đang được khai thác. Phiên bản bị thay thế được lưu trữ để phục vụ quản lý, nghiên cứu, đối chiếu và không tiếp tục cung cấp cho người học, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cho phép.