vanban.org

Điều 19. Đặt tên, đổi tên cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu — Thông tư 21/2026/TT-BXD

Bộ Xây dựng Ban hành 15/05/2026 Hiệu lực 01/07/2026 Hết hiệu lực một phần
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 21/2026/TT-BXD › Chương II › Mục 3 › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Đặt tên, đổi tên cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu

1. Cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu được đặt tên và theo nguyên tắc sau đây:

a) Cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu được đặt tên khi lập dự án đầu tư xây dựng hoặc khi công bố mở;

b) Không đặt tên cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu trùng nhau trên một địa bàn cấp tỉnh, không gây nhầm lẫn với tên của cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu đã công bố mở hoặc không đúng với tên gọi, chức năng của cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu đó;

c) Không sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để đặt tên hoặc một phần tên riêng của cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu trừ trường hợp có sự đồng ý của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó;

d) Không sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc để đặt tên cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu;

đ) Tên cảng, bến thủy nội địa viết bằng tiếng Việt, có thể kèm theo tên bằng tiếng Anh, bắt đầu là cụm từ “Cảng thủy nội địa” hoặc “Bến thủy nội địa” hoặc “Khu neo đậu”, tiếp theo là tên riêng của cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu.

2. Chủ cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu tự thực hiện đổi tên cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu theo quy định tại khoản 1 Điều này. Sau khi thực hiện đổi tên, Chủ cảng, bến thủy nội địa, khu neo đậu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc đổi tên đến cơ quan có thẩm quyền công bố mở cảng, bến thủy nội địa để cập nhật, theo dõi, quản lý.