Điều 8. Thông báo tìm chủ hàng hóa tồn đọng
Sửa đổi bởi 78/2026/TT-BTC · hiệu lực 01/07/20261. Đối với hàng hóa tồn đọng quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều
1 Thông tư này, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của doanh nghiệp quản lý hàng hóa tồn đọng về hàng hóa tồn đọng, hải quan cửa khẩu/ngoài cửa khẩu nơi quản lý địa bàn lưu giữ hàng hóa tồn đọng phải thông báo về hàng hóa tồn đọng. Trường hợp thông tin về hàng hóa tồn đọng do doanh nghiệp quản lý hàng hóa tồn đọng cung cấp không đầy đủ hoặc cần phải xác minh thêm thì thời gian thực hiện việc thông báo được kéo dài nhưng tối đa không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của doanh nghiệp quản lý hàng hóa tồn đọng.
Trường hợp lô hàng hóa tồn đọng có dấu hiệu vi phạm pháp luật nhưng qua kiểm tra, xác minh xác định hàng hóa không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu thì thời điểm cơ quan hải quan thực hiện thông báo tìm chủ hàng được tính từ ngày cơ quan hải quan niêm phong hàng hóa và giao cho doanh nghiệp quản lý hàng hóa tồn đọng bảo quản.
2. Việc thông báo về hàng hóa tồn đọng được thực hiện như sau:
a) Đăng tải trên cổng thông tin điện tử hải quan trong thời gian ít nhất 60 ngày;
b) Niêm yết công khai tại trụ sở Chi cục Hải quan khu vực và trụ sở Hải quan cửa khẩu/ngoài cửa khẩu nơi quản lý địa bàn lưu giữ hàng hóa tồn đọng trong thời gian ít nhất 60 ngày.
3. Thời hạn để người đến nhận hàng là 60 ngày, kể từ ngày thông báo lần đầu. Đối với hàng hóa dễ bị hư hỏng, hàng đông lạnh, hóa chất nguy hiểm, độc hại, hàng hóa có hạn sử dụng còn dưới 60 ngày, thời hạn thông báo để người đến nhận hàng là 15 ngày, kể từ ngày thông báo lần đầu.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn thông báo nêu không có người đến nhận hàng, Hải quan cửa khẩu/ngoài cửa khẩu nơi quản lý địa bàn lưu giữ hàng hóa tồn đọng báo cáo Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực để xử lý theo hướng dẫn tại Thông tư này.
5. Các trường hợp không phải thông báo:
a) Hàng hóa mà chủ hàng hóa tuyên bố từ bỏ hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ quy định tại Điều 5 Thông tư này;
b) Cơ quan hải quan xác định được hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu theo quy định tại Điều 7 Thông tư này.