Điều 5. Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thu hồi tài sản nhà nước
1. Khi tiến hành thủ tục xử phạt đối với các hành vi vi phạm mà phải áp dụng biện pháp thu hồi tài sản nhà nước, người có thẩm quyền xử phạt căn cứ thẩm quyền thu hồi tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước để ra quyết định thu hồi nếu thuộc thẩm quyền của mình; trường hợp không thuộc thẩm quyền của mình, phải báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền để quyết định thu hồi.
Thẩm quyền thu hồi tài sản nhà nước thực hiện theo quy định của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
2. Hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi tài sản nhà nước bao gồm:
a) Văn bản đề nghị của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (trong đó nêu rõ hiện trạng của tài sản đề nghị thu hồi; các biện pháp khắc phục hậu quả đã được áp dụng);
b) Bản sao Quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
c) Bản sao Biên bản vi phạm hành chính;
d) Các hồ sơ, giấy tờ liên quan đến tài sản vi phạm (nếu có).
3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, căn cứ hồ sơ do người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cung cấp, cơ quan có thẩm quyền thu hồi có trách nhiệm ra quyết định thu hồi tài sản; trường hợp cơ quan có thẩm quyền thu hồi xét thấy không có đủ căn cứ để áp dụng biện pháp thu hồi tài sản thì phải có văn bản thông báo cho người đề nghị thu hồi, trong đó nêu rõ lý do không áp dụng biện pháp thu hồi tài sản.
4. Trình tự, thủ tục thu hồi tài sản nhà nước và xử lý tài sản sau thu hồi thực hiện theo quy định tại Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và hướng dẫn của Bộ Tài chính.