Điều 36. Thu hồi giấy phép lái xe
1. Giấy phép lái xe bị thu hồi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe sai đối tượng, không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi gian lận trong quá trình sát hạch, cấp giấy phép lái xe;
b) Người được cấp giấy phép lái xe không đủ điều kiện sức khoẻ theo kết luận của cơ sở khám chữa bệnh đối với từng hạng giấy phép lái xe;
c) Người được cấp giấy phép lái xe tẩy, xoá, làm sai lệch thông tin trên giấy phép lái xe;
d) Giấy phép lái xe đã quá thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nhưng người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng.
2. Trình tự giải quyết:
a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện giấy phép lái xe thuộc trường hợp bị thu hồi, người có thẩm quyền ra quyết định thu hồi giấy phép lái xe và thông báo cho cán bộ, chiến sĩ. Nội dung của quyết định cần nêu rõ lý do thu hồi;
b) Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi giấy phép lái xe, cán bộ, chiến sĩ được cấp giấy phép lái xe phải nộp giấy phép lái xe bị thu hồi cho cơ quan có thẩm quyền, trừ trường hợp giấy phép lái xe đã quá thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nhưng người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng;
c) Cơ quan quản lý giấy phép lái xe có trách nhiệm thu hồi giấy phép lái xe thuộc trường hợp bị thu hồi; nhập thông tin vào phần mềm quản lý giấy phép lái xe, sổ quản lý giấy phép lái xe và gửi thông báo về việc thu hồi giấy phép lái xe tới đơn vị công tác của người có giấy phép lái xe bị thu hồi.