vanban.org

Điều 6. Thực hiện quản lý cư trú đối với người chấp hành án hình sự tại cộng đồng — Thông tư 104/2026/TT-BCA

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Công an Ban hành 26/06/2026 Hiệu lực 01/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 104/2026/TT-BCA › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Thực hiện quản lý cư trú đối với người chấp hành án hình sự tại cộng đồng

1. Công an cấp xã hướng dẫn người chấp hành án thực hiện đăng ký thường trú, tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú; cập nhật thông tin người chấp hành án vào cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư.

2. Việc giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú của người chấp hành án hình sự tại cộng đồng

a) Đối với người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện: ngay sau khi nhận được đơn xin vắng mặt tại nơi cư trú của người chấp hành án, Trưởng Công an cấp xã phải xem xét, ra quyết định về việc giải quyết đơn xin vắng mặt tại nơi cư trú; quyết định phải nêu rõ đồng ý hay không đồng ý, trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do;

Đối với người chấp hành án phạt quản chế có đơn xin đi khỏi nơi quản chế: Trưởng Công an cấp xã xem xét, cấp giấy phép đi lại trong phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế; báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để xem xét, cấp giấy phép đi ra ngoài phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế;

b) Khi xem xét giải quyết cho người chấp hành án vắng mặt tại nơi cư trú, Công an cấp xã phải căn cứ vào lý do xin vắng mặt tại nơi cư trú, tình hình, kết quả chấp hành án và yêu cầu quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án. Khi người chấp hành án được giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú, Công an cấp xã phải giải thích và hướng dẫn họ về việc thực hiện các thủ tục khai báo tạm vắng, đăng ký tạm trú và chấp hành pháp luật, chấp hành nghĩa vụ của người chấp hành án trong thời gian vắng mặt tại nơi cư trú; khi trở về, yêu cầu người chấp hành án phải nộp bản xác nhận của Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú;

c) Người chấp hành án đi khỏi nơi cư trú không xin phép, báo cáo thì Công an cấp xã phải phối hợp với gia đình để xác minh và giải quyết, xử lý theo quy định.

3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án hình sự tại cộng đồng thay đổi nơi cư trú

a) Trường hợp người người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nguyện vọng xin thay đổi nơi cư trú: thực hiện theo quy định tại Thông tư số 51/2026/TT-BCA ngày 14 tháng 5 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về giải quyết trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú;

b) Trường hợp người chấp hành án phạt quản chế buộc phải thay đổi nơi cư trú vì lý do bất khả kháng như không còn nơi cư trú, buộc phải chuyển đến nơi cư trú để có người chăm sóc, nuôi dưỡng và các trường hợp khác thì Công an cấp xã báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để báo cáo Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an xem xét, quyết định. Căn cứ ý kiến của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Trưởng Công an cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra quyết định giải quyết thay đổi nơi cư trú tuỳ theo trường hợp người chấp hành án thay đổi trong hoặc ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp tỉnh. Trường hợp được thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo khoản 1 Điều 4 và khoản 2 Điều 5 Thông tư số 51/2026/TT-BCA;

c) Trường hợp người chấp hành án phạt cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đã thay đổi nơi cư trú thì thực hiện áp dụng khoản 1 Điều 4 và khoản 2 Điều 5 Thông tư số 51/2026/TT-BCA.

4. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án hình sự tại cộng đồng làm việc, học tập ngoài nơi cư trú

a) Trường hợp người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, người chấp hành án phạt quản chế, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có đơn xin phép làm việc, học tập ngoài nơi cư trú, Công an cấp xã tiếp nhận đơn và kế hoạch lao động, hợp đồng lao động, chương trình học tập có xác nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi người chấp hành án làm việc, học tập. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, Trưởng Công an cấp xã phải tiến hành xác minh, ra quyết định giải quyết đơn xin học tập, làm việc ngoài nơi cư trú, trong đó phải nêu rõ đồng ý hoặc không đồng ý, trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do. Trường hợp đồng ý thì gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã nơi người đó đến làm việc, học tập và người chấp hành án;

b) Thời hạn giải quyết người chấp hành án hình sự tại cộng đồng làm việc, học tập ngoài nơi cư trú theo thời hạn trong hợp đồng lao động, thời hạn theo kỳ hoặc khoá học;

c) Công an cấp xã nơi người chấp hành án đến làm việc, học tập (nơi đến) có trách nhiệm phối hợp với Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát, giáo dục (nơi đi), cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án học tập, làm việc để thực hiện quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành án.

Khi người chấp hành án đến trình báo, Công an cấp xã nơi đến phải phổ biến, quán triệt và yêu cầu người chấp hành án nghiêm chỉnh chấp hành nghĩa vụ, chấp hành pháp luật, quy định của cơ quan, tổ chức nơi học tập, làm việc và của địa phương nơi đến tạm trú, lưu trú; thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú, lưu trú theo quy định của pháp luật cư trú. Hết thời hạn 03 ngày làm việc tính từ ngày ra quyết định giải quyết đơn xin học tập, làm việc ngoài nơi cư trú mà người chấp hành án chưa đến trình báo, Công an cấp xã nơi đến phải yêu cầu người chấp hành án trình báo tại Công an cấp xã nơi đến.

Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Công an cấp xã nơi đến phải thông báo ngay cho Công an cấp xã nơi đi để phối hợp giải quyết.

Khi kết thúc hợp đồng lao động, chương trình học tập, Công an cấp xã nơi người chấp hành án học tập, làm việc (nơi đến) yêu cầu người chấp hành án nộp bản báo cáo việc chấp hành pháp luật, chấp hành nghĩa vụ và xác nhận vào bản báo cáo của người chấp hành án; yêu cầu người chấp hành án trở về nơi cư trú, nộp bản báo cáo cho Công an cấp xã được giao quản lý, giám sát, giáo dục.

5. Công an các đơn vị, địa phương thực hiện thủ tục đăng ký tạm hoãn xuất cảnh, chưa được xuất cảnh đối với người chấp hành án theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an.

6. Việc điểm danh, kiểm diện người chấp hành án hình sự tại cộng đồng thực hiện theo Điều 10 Nghị định 231/2026/NĐ-CP.