Điều 9. Ghi, xác nhận sổ bảo hiểm xã hội
1. Nội dung ghi, xác nhận, phương thức ghi sổ bảo hiểm xã hội thực hiện theo quy định hiện hành của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và theo nội dung đã được thiết kế sẵn của phần mềm Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân.
2. Việc in bìa sổ, tờ rời sổ bảo hiểm xã hội và danh sách cán bộ, chiến sĩ tham gia bảo hiểm xã hội được thực hiện theo phương thức trực tiếp lấy dữ liệu từ phần mềm Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân.
3. Trường hợp được đóng bảo hiểm xã hội cho các tháng còn thiếu để hưởng chế độ hưu trí theo Khoản 6 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì tại cột số 3 ghi "đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Khoản 6 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội"; cột số 4 ghi căn cứ đóng bằng mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ việc vào quỹ hưu trí và tử tuất; cột số 5 ghi tổng tỷ lệ % đóng bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động và người lao động vào quỹ hưu trí và tử tuất theo quy định tại Điều 86 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
4. Đối với cán bộ, chiến sĩ thực hiện chế độ tiền lương, tiền công theo thang bảng lương do Nhà nước quy định thì mức tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và phụ cấp chức vụ, khu vực (nếu có) ghi bằng hệ số; phụ cấp thâm niên nghề, thâm niên vượt khung (nếu có) ghi bằng tỷ lệ % .
5. Đối với lao động hợp đồng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo mức tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động quyết định thì ghi mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp bằng Việt Nam đồng.
6. Tờ rời sổ bảo hiểm xã hội được in khi xác nhận tổng thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (nếu có) đến thời điểm cán bộ, chiến sĩ được cấp, cấp lại, tiếp nhận sổ bảo hiểm xã hội; ngừng đóng bảo hiểm xã hội để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, chốt, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (nếu có) khi di chuyển; điều chỉnh nội dung đã ghi trên sổ bảo hiểm xã hội và được ký, xác nhận trên trang tờ rời cuối cùng.