Điều 15. Trách nhiệm quản lý, sử dụng sổ bảo hiểm xã hội
1. Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân có trách nhiệm
a) Quản lý, bảo quản sổ bảo hiểm xã hội trong thời gian thực hiện cấp, cấp lại, điều chỉnh nội dung ghi trên sổ bảo hiểm xã hội; giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội; chốt, xác nhận sổ bảo hiểm xã hội khi di chuyển;
b) Xác nhận các chế độ: Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, bảo hiểm xã hội một lần (xuất ngũ, thôi việc), tử tuất sau khi đã giải quyết hưởng trên trang 3 bìa sổ bảo hiểm xã hội theo quy định;
c) Quyết định tiêu hủy hoặc lưu giữ đối với sổ bảo hiểm xã hội hỏng, cấp không đúng quy định do Công an các đơn vị, địa phương chuyển đến.
2. Công an các đơn vị, địa phương có trách nhiệm
a) Lưu giữ, quản lý sổ bảo hiểm xã hội cùng với hồ sơ cán bộ (trường hợp đơn vị không trực tiếp quản lý hồ sơ cán bộ thì được quản lý riêng tại đơn vị) theo các quy định về quản lý hồ sơ cán bộ Công an nhân dân;
b) Báo cáo kịp thời và phối hợp với Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân để cấp lại, điều chỉnh nội dung đã ghi trên sổ bảo hiểm xã hội đối với các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư này;
c) Thu hồi, báo cáo Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân đối với sổ bảo hiểm xã hội cấp không đúng quy định (kèm theo sổ bảo hiểm xã hội đã thu hồi);
d) Thường xuyên cập nhật vào phần mềm Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân thông tin liên quan đến cán bộ, chiến sĩ (quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, nhân thân…) để kịp thời cấp, cấp lại, điều chỉnh, chốt, xác nhận sổ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, chiến sĩ theo quy định;
đ) Quản lý và mở sổ theo dõi tình hình cấp sổ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, chiến sĩ tại đơn vị.
3. Cán bộ, chiến sĩ có trách nhiệm quản lý sổ bảo hiểm xã hội đã được Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân chốt, xác nhận để tiếp tục tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, hoặc để giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định (trừ việc chuyển sang hưởng chế độ ốm đau).