vanban.org

Điều 23. Chế độ kiểm tra — Quyết định 81/2004/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/08/2011 Thay thế: 42/2006/QĐ-UBND · 26/07/2006
Tuyên Quang Ban hành 29/11/2004 Hiệu lực 29/11/2004 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 81/2004/QĐ-UB › Chương IV › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23. Chế độ kiểm tra

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ kiểm tra bằng các hình thức :

- Kiểm tra bằng văn bản (yêu cầu đối tượng kiểm tra phải báo cáo bằng văn bản)

- Trực tiếp kiểm tra

- Thành lập đoàn kiểm tra

2. Quy trình kiểm tra của Uỷ ban nhân dân tỉnh được tiến hành như sau:

2.1- Điều kiện để kiểm tra: Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ tiến hành kiểm tra khi :

a) Nhận được chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ hoặc thực hiện kế hoạch của Chính phủ, nhận được chỉ thị của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

b) Nhận được kiến nghị của các Bộ, ngành Trung ương

c) Nhận được kiến nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc và các tổ chức, cá nhân khác.

d) Trong trường hợp cần giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân phải có ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2.2- Tổ chức kiểm tra :

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định các cuộc kiểm tra nếu phát hiện có các vấn đề hệ trọng và phức tạp.

- Uỷ ban nhân dân tỉnh họp toàn thể để quyết định tiến hành kiểm tra.

- Thành lập đoàn kiểm tra: có thể giao cho các cơ quan chuyên môn cùng với Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ kiểm tra hoặc giao cho một đồng chí Thủ trưởng cơ quan chuyên môn chủ trì theo quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

- Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh phối hợp với Thanh tra tỉnh có trách nhiệm lập chương trình, kế hoạch kiểm tra trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định để phục vụ cho tổ chức kiểm tra.

2.3- Hoạt động của đoàn kiểm tra :

- Khi tiến hành kiểm tra, đoàn kiểm tra phải quy định rõ : Nội dung kiểm tra, thời điểm, thời gian kiểm tra, thẩm quyền được giải quyết đến đâu, những vấn đề cần kết luận tại chỗ.

- Đoàn kiểm tra phải chỉ rõ trách nhiệm báo cáo thuộc về tổ chức, cá nhân nào (đối tượng kiểm tra); đối tượng kiểm tra được báo cáo bằng văn bản hoặc trực tiếp trả lời đoàn kiểm tra.

- Đối tượng kiểm tra (tổ chức, cá nhân) phải có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết phục vụ cho việc kiểm tra, cung cấp các chứng cứ đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn kiểm tra thực hiện nhiệm vụ.

4. Kết thúc kiểm tra :

Sau khi hoàn thành việc kiểm tra, đoàn kiểm tra phải có kết luận rõ ràng và kiến nghị xử lý theo thẩm quyền (nếu có sai phạm) đối với đối tượng kiểm tra. Kết luận kiểm tra phải gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Thanh tra Nhà nước, Tỉnh uỷ, các cơ quan hữu quan và gửi đối tượng kiểm tra.