Điều 7. Trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ và thành phần hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết
1. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết (UBND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh và UBMTTQVN) gửi Thường trực HĐND tỉnh đề nghị xây dựng nghị quyết theo Điều 111 của Luật năm 2015 và thành phần hồ sơ theo Điều 117 của Luật năm 2015.
a) Đối với cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết là UBND tỉnh thì trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ được thực hiện thông qua việc giao cho Sở, ban, ngành tỉnh có liên quan xây dựng theo quy định về cơ quan chuyên môn, cơ quan giúp việc cho UBND tỉnh.
b) Đối với cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết là các Ban của HĐND tỉnh và UBMTTQVN tỉnh thì trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ được giao lại cho các đơn vị trực thuộc phụ trách soạn thảo.
2. Trường hợp lập đề nghị xây dựng nghị quyết theo Khoản 1 Điều 6 Quy chế này, thành phần hồ sơ gồm:
a) Tờ trình về đề nghị xây dựng nghị quyết (theo mẫu số 02, Phụ lục V, ban hành kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP);
b) Bản thuyết minh về căn cứ ban hành nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết; nội dung chính của nghị quyết; thời gian dự kiến đề nghị HĐND xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết.
Hồ sơ được UBND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh hoặc UBMTTQVN tỉnh trình Thường trực HĐND tỉnh.
3. Trường hợp lập đề nghị xây dựng nghị quyết theo Khoản 2 Điều 6 Quy chế này, thành phần hồ sơ gồm:
a) Tờ trình đề nghị xây dựng nghị quyết (theo mẫu số 02, Phụ lục V, ban hành kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP);
b) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách (theo mẫu số 01, Phụ lục V, ban hành kèm theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP);
c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến chính sách;
d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý - gửi bản điện tử;
đ) Đề cương dự thảo nghị quyết;
e) Tài liệu khác (nếu có) - gửi bản điện tử.
Tài liệu quy định tại Điểm a, b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại có thể gửi bằng bản điện tử.