Điều 8. Quy định đối với khu vực có yêu cầu quản lý đặc thù.
Các khu vực có yêu cầu quản lý đặc thù được quy định quản lý cụ thể tại các Phụ lục. Các nội dung quy định cụ thể của từng khu vực cần tuân thủ theo các nội dung tại Quy chế này và các quy định pháp luật có liên quan. Các khu vực chưa có quy định quản lý cụ thể thì áp dụng các quy định tại các Điều, khoản của Quy chế này.
1. Khu Trung tâm chính trị Ba Đình.
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Là nơi tập trung các công trình đầu não của Đảng, Nhà nước, Quốc Hội, Chính phủ và các cơ quan ban ngành có liên quan. Đây cũng là di tích lịch sử quan trọng cần phải bảo tồn và tiếp tục nâng cao giá trị về kiến trúc.
Ngoài Khu trung tâm Hoàng Thành, Khu trung tâm chính trị Ba Đình, Quảng trường Ba Đình là quần thể các công trình văn hóa và di sản kiến trúc về Nhà nước Việt Nam và chính thể Đông Dương qua các thời kỳ hiện đại, bao gồm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các công trình dinh thự, công thự được xây dựng thời Pháp thuộc như Phủ Chủ tịch, Trụ sở Ban chấp hành Trung ương Đảng (Trường Abert Sarault), Trụ sở Bộ Ngoại giao, Nhà thờ Đa Minh, các trụ sở bộ ngành, các khu biệt thự cũ với tổ chức thành phố vườn, công trình xây dựng giai đoạn sau năm 1954 tiêu biểu như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Nhà Quốc hội, Văn phòng Chính phủ...
Hệ thống đường phố tại đây là sự kết hợp của các đại lộ lớn chạy dài như Điện Biên Phủ, Hùng Vương và các ô phố bàn cờ tập trung nhiều cây xanh lớn như Phan Đình Phùng, Chu Văn An, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Cảnh Chân, Trần Phú, Bà Huyện Thanh Quan..., kết hợp với các quảng trường, không gian mở có cảnh quan đẹp như Quảng trường Ba Đình, vườn Hồng trục đường Bắc Sơn, vườn cây Bảo tàng Hồ Chí Minh.., các công viên, vườn cây lớn tạo nên các khu có giá trị đặc biệt về cảnh quan và nơi bảo tồn nguồn gen thực vật như: Vườn bách thảo, vườn cây trong “Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ Tịch”, vườn Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, công viên Lê Nin, vườn hoa Mai Xuân Thưởng, công viên Lý Tự Trọng và một số không gian công cộng lớn.
b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc:
Việc quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan khu vực này thực hiện theo Quyết định số 2411/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chi tiết Khu trung tâm chính trị Ba Đình, tỷ lệ 1/2000 và Quyết định số 2710/QĐ-UBND ngày 21/5/2014 của UBND Thành phố Hà Nội ban hành Quy định quản lý theo đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chi tiết Khu trung tâm chính trị Ba Đình, tỷ lệ 1/2000.
2. Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành - Thăng Long.
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - đại diện di sản kiến trúc quan trọng bậc nhất trong hệ thống di sản Việt Nam, là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Đông Kinh và tỉnh thành Hà Nội bắt đầu từ thời kỳ tiền Thăng Long (Thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Đến thời Pháp thuộc, một số công trình được xây dựng theo kiến trúc Pháp.
Các công trình còn lại như các cổng, tường thành, cổng Đoan Môn, cửa Bắc Môn, Hậu Lâu, thềm rồng Điện Kính Thiên - Công trình trung tâm của Hoàng cung Hậu Lê, cùng với Chùa Một Cột và các di tích khác là các đại diện tiêu biểu quan trọng cho bản sắc kiến trúc truyền thống Việt Nam.
b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc:
Thực hiện theo Luật Di sản văn hóa và Quyết định số 696/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng mặt bằng Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu thành phố Hà Nội; Quyết định số 975/QĐ-BXD ngày 21/8/2015 và Quyết định số 1481/QĐ-BXD ngày 28/12/2015 của Bộ Xây dựng về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội (tỷ lệ 1/500). Trường hợp cấp thẩm quyền có Quyết định điều chỉnh thì thực hiện theo Quyết định mới.
3. Khu vực hồ Gươm và phụ cận.
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Khu vực có cấu trúc không gian kiến trúc cảnh quan là trung tâm văn hóa, hành chính, thương mại, dịch vụ, du lịch của Thủ đô, khu vực bảo tồn các di sản văn hóa, lịch sử, kiến trúc, di tích quốc gia đặc biệt.
Là khu vực đô thị với ba hệ giá trị lịch sử - văn hóa - sinh thái không ranh giới với giá trị lịch sử (gồm di tích lịch sử danh thắng thủ đô Đền Ngọc Sơn và toàn bộ khu vực hồ Hoàn Kiếm được xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 09/12/2013 và các công trình kiến trúc nhiều thời kỳ có giá trị biểu hiện cho các giai đoạn lịch sử của Thủ đô); giá trị văn hóa (là không gian giao thoa văn hóa Đông-Tây, gắn kết và chuyển tiếp không gian phố cổ - phố cũ); giá trị sinh thái (là cảnh quan môi trường Hồ Hoàn Kiếm với các yếu tố cảnh quan tự nhiên, nhân tạo đan xen hài hòa. Hệ thống cây xanh có nhiều cây cổ thụ và cây gỗ quý đã tồn tại trên trăm năm).
Xung quanh Hồ Gươm là các khu vực công trình khu phố cũ với các công thự, (Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ) nhà phố (Hàng Khay), khu phố cổ với các dãy nhà phố có tầng cao vừa phải (2-4 tầng) tạo nên tỷ lệ không gian giữa mặt nước, cây xanh thiên nhiên và công trình hài hòa, hữu tình, cùng với hệ thống vườn cây bao quanh và vườn hoa Lý Thái Tổ kết nối quảng trường khu vực Ngân hàng Nhà nước, cùng với quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục phía Bắc là các công trình kiến trúc quan trọng hoặc có giá trị như Trụ sở HĐND - UBND Thành phố, Bưu điện Hà Nội, Tổng công ty Vàng bạc đá quý, Nhà thờ Lớn, Nhà khách Chính phủ, Cung Thiếu nhi, Trụ sở Bộ Lao động, Ngân hàng Nhà nước... các dãy nhà phố di sản như Hàng Khay, Cầu Gỗ...
b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc:
Tuân thủ định hướng phát triển không gian Quy hoạch chung và Quy hoạch phân khu đô thị được duyệt.
Đảm bảo tính thống nhất từ không gian tổng thể đô thị đến không gian cụ thể thuộc đô thị; phải có tính kế thừa kiến trúc, không gian cảnh quan đô thị và phù hợp với điều kiện, đặc điểm tự nhiên, đồng thời tôn trọng tập quán, văn hóa địa phương; phát huy các giá trị truyền thống để gìn giữ bản sắc đặc trưng trong kiến trúc, không gian cảnh quan đô thị.
Bảo tồn hình ảnh đặc trưng của khu vực Hồ Gươm; Cải thiện các cảnh quan xung quanh hồ, bảo tồn tôn tạo, quản lý bảo vệ theo Luật Di sản văn hóa, xung quanh các công trình di tích có giá trị, trên các tuyến phố Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Hàng Khay, Tràng Tiền, Tràng Thi... và xung quanh các quảng trường công cộng như quảng trường Đông kinh Nghĩa Thục, quảng trường Lý Thái Tổ, quảng trường 19/8, quảng trường Nhà thờ lớn... Bảo tồn, tôn tạo không gian kiến trúc cảnh quan các công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa, cách mạng như: đền Ngọc Sơn, đền Bà Kiệu, Bưu điện Hà Nội, trung tâm thương mại Tràng Tiền, khu vực tượng đài Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh... Có thể nghiên cứu bổ sung các công trình phục vụ tiện ích công cộng phục vụ du lịch, văn hóa chất lượng cao; Cải thiện điều kiện về hạ tầng đô thị và môi trường cho khu vực.
Bảo tồn tôn tạo không gian mặt nước cây xanh, kết nối khu vực hồ Gươm với khu vực phố cổ, phố cũ, khu Hoàng thành Thăng Long và sông Hồng. Phát triển thêm các vườn hoa, tiểu cảnh, lối đi bộ tại những không gian cải tạo xây dựng lại các công trình trong khu vực. Khai thác hợp lý cảnh quan thiên nhiên nhằm tạo ra giá trị thẩm mỹ, gắn với tiện nghi, nâng cao hiệu quả sử dụng không gian và bảo vệ môi trường đô thị.
Hình 2. Khu vực Hồ Gươm và phụ cận
Tuân thủ quy hoạch tổng mặt bằng sử dụng đất, các chỉ tiêu không chế đã được xác lập trong quy hoạch phân khu. Công trình chủ yếu thấp tầng, thấp dần theo hướng ra hồ Hoàn Kiếm.
(Quy định cụ thể tại Phụ lục 06 kèm theo Quy chế này)
4. Khu vực phố Cổ Hà Nội.
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Là khu đô thị cổ, phố thị lâu đời nhất của Hà Nội. Khu phố cổ với đặc trưng các phố nghề gắn với thợ các làng nghề quanh Thăng Long, buôn bán thông qua các con phố chuyên doanh. Thời pháp thuộc được chỉnh trang, bổ sung thêm các tuyến phố nhỏ tạo thành mạng phố bàn cờ với các con phố nhỏ, các dãy nhà ống 2- 4 tầng nằm liền kề sát nhau kết hợp với nhiều công trình di tích chùa, đình đền miếu, điểm xuyết các công trình công cộng có quy mô vừa phải tạo nên một không gian kiến trúc phố thị đặc trưng riêng. Đến nay, đây vẫn là khu buôn bán nhộn nhịp nhất của Hà Nội với kiến trúc có phần biến đổi cần được bảo vệ những nét đặc trưng riêng.
Khu vực trục trung tâm là đường trục chính Hàng Đào - Hàng Ngang - Hàng Đường - Đồng Xuân với các ô phố tiệm cận.
Đặc trưng của khu phố cổ là kiến trúc nhà cổ đa dạng về phong cách kiến trúc (Việt Nam truyền thống, Trung hoa, Châu Âu) với loại hình chủ yếu là nhà ống, mái ngói nghiêng, mặt tiền là cửa hàng buôn bán thò thụt không đều, bên trong có sân vườn nhỏ như là một đại diện đặc trưng tiêu biểu cho bản sắc kiến trúc công trình truyền thống Hà Nội.
Khu phố cổ Hà Nội đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 14/2004/QĐ-BVHTT năm 2004; là nơi còn tồn tại nhiều di tích, di sản, công trình lịch sử - kiến trúc - văn hóa có giá trị cần phải bảo tồn tôn tạo.
b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc:
Không gian đô thị được xác lập chủ yếu là công trình thấp tầng với mật độ cao, hình thức công trình khuyến khích phục dựng theo kiến trúc đặc trưng của khu phố cổ. Không gian trong các ô phố được tổ chức theo cấu trúc bảo tồn khu vực lõi, tạo điều kiện bổ sung không gian xanh và công trình dịch vụ cho khu phố cổ.
Đối với Khu vực bảo tồn cấp I: Được giới hạn bởi các phố Hàng Chiếu, Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Bạc, Hàng Mắm và Trần Nhật Duật (diện tích khoảng 19 ha). Trong khu bảo vệ tôn tạo cấp I phải giữ gìn hình ảnh và phong cách phu phố Cổ truyền thống, bảo tồn, tôn tạo các công trình kiến trúc có giá trị, các di tích lịch sử - văn hóa. Các công trình đã xuống cấp không đảm bảo an toàn có thể được cải tạo hoặc xây dựng mới trên cơ sở bảo tồn về không gian kiến trúc và phong cách kiến trúc cổ, hoặc kiến trúc cũ sẵn có từ trước.
Bảo tồn theo hướng phục dựng nguyên gốc hoặc theo phong cách truyền thống các công trình trong khu vực bảo tồn cấp I (các công trình được xác định có giá trị theo quy định). Các công trình khác phục dựng theo kiến trúc đặc trưng tiêu biểu khu phố cổ và được kiểm soát theo Quy chế quản lý kiến trúc.
Nâng cấp, cải tạo hạ tầng kỹ thuật, tiện ích đô thị phục vụ tham quan, du lịch theo hướng tổ chức toàn bộ tuyến phố trong khu vực trở thành phố đi bộ. Bổ sung cây xanh, tiện ích đô thị. Xây dựng hình ảnh tuyến phố đi bộ với các cửa hàng buôn bán sản phẩm truyền thống, phục vụ du lịch.
Đối với Khu bảo vệ, tôn tạo cấp II: Bao gồm phần còn lại trong ranh giới khu phố Cổ (diện tích khoảng 81 ha). Trong khu bảo tồn tôn tạo cấp II cần bảo tồn, tôn tạo các công trình kiến trúc có giá trị về kiến trúc và các di tích lịch sử - văn hóa. Các công trình khác được cải tạo chỉnh trang theo các quy định trong bản Quy định quản lý theo Quy hoạch phân khu đô thị H1-1A được duyệt.
Các nội dung yêu cầu bảo tồn, tôn tạo: Mạng đường giao thông; Đảm bảo hành lang bảo vệ và phục chế di sản, di tích; Giữ gìn phong cách kiến trúc đặc hữu (hơn 1000 công trình); Bảo vệ cây xanh, vườn hoa.
Hình 3. Khu vực phố cổ Hà Nội
Các nội dung cải tạo và phát triển: xây dựng mới phù hợp khung cảnh cổ; Lớp sau mặt phố cao <16m; Tăng diện tích cây xanh trong toàn khu phố cổ để đạt chỉ tiêu 1,5m²/người. Diện tích cây xanh bao gồm: Cây xanh công cộng, cây xanh hè phố, cây xanh sân vườn bên trong các công trình và cây xanh, sân chod bên trong lõi các ô phố.
(Chi tiết tại Phụ lục 07 kèm theo Quy chế này).
5. Khu vực phố Cũ Hà Nội.
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Thuộc khu vực nội đô lịch sử, nằm trong khu vực hạn chế phát triển của Đô thị trung tâm Thành phố Hà Nội, kề cận khu vực các khu vực có tính đặc trưng của Thủ đô.
Là khu đô thị được hình thành từ khu vực nhượng địa Pháp của Triều Nguyễn. Phần lớn khu phố Pháp với các ô phố dạng bàn cờ tạo nên hình thái không gian đô thị đặc trưng “thành phố vườn”, có nhiều không gian xanh, mặt nước, công trình di sản lịch sử, văn hóa, kiến trúc gồm các không gian quảng trường, vườn hoa, các công trình biệt thự, công thự, trường học, bệnh viện, cơ quan, nhà phố cũ và nhiều công trình có giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc, được xây dựng chủ yếu vào thời kỳ Pháp thuộc. Khu phố cũ Hà Nội là khu vực cần được bảo tồn, cải tạo, hạn chế phát triển nhà ở và giảm quy mô dân số.
Trong phạm vi khu phố cũ có nhiều công trình kiến trúc có giá trị xây dựng trước năm 1954 như nhà hát, các trường đại học, bảo tàng, viện nghiên cứu, công thự, khách sạn lớn, đồng thời cũng có nhiều công trình kiến trúc có quy mô lớn, giá trị được xây dựng sau năm 1954 cho đến nay.. theo các phong cách kiến trúc đặc trưng cổ điển gồm phong cách Tiền thực dân (doanh trại, bệnh viện quân Pháp cũ), phong cách Tân cổ điển (đại diện trong và ngoài khu vực như Phủ Chủ tịch, Nhà khách chính phủ Ngô Quyền, Tòa án nhân dân tối cao tại Lý Thường Kiệt, Bưu điện Hà Nội, Tông liên đoàn lao động Việt Nam, ga Hàng cỏ, khách sạn Metropole, Nhà hát lớn, Bệnh viện K..), phong cách địa phương Pháp (phong cách miền Bắc, miền Nam Pháp - Địa Trung Hải như các đại diện trong và ngoài khu vực gồm trụ sở Ban đối ngoại TW phố Hoàng Văn Thụ, trụ sở Bộ Tư pháp, trường Phan Đình Phùng, trường Trần Phú, trường Chu Văn An và các loại biệt thự, phong cách Đông Dương như các đại diện trong và ngoài khu vực gồm tòa nhà chính Đại học Dược, Viện Bảo tàng Lịch sử, trụ sở Bộ Ngoại giao, nhà thờ Cửa Bắc, trụ sở Tổng cục TDTT trên phố Trần Phú, nhà số 4 Lý Nam Đế, Viện Vệ sinh dịch tễ, 4 tòa nhà của Việt Nam học xá trong Đại học Bách khoa, nhà thờ Đa Minh trên phố Hùng Vương, cùng nhiều biệt thự quanh hồ Thuyền Quang, phong cách Art-décor với các đại diện trong và ngoài khu vực như trụ sở Ngân hàng Nhà nước), trụ sở Tổng công ty vàng bạc đá quý ngã tư Đinh Tiên Hoàng và Tràng Tiền, Trung tâm văn hóa Pháp, trụ sở Bộ công thương, Bưu điện quốc tế.., phong cách gô-tích mới như Nhà thờ lớn, Nhà thờ Hàm Long..., phong cách hiện đại đầu Thế kỷ XX, phong cách Trung hoa trước năm 1930. Ngoài ra trong khu vực Khu phố cũ cũng có nhiều công trình kiến trúc có giá trị xây dựng.
Các chức năng chủ yếu: Biệt thự nhà ở, cơ quan, di tích lịch sử và văn hóa, dịch vụ thương mại, tài chính, các công trình văn hóa, y tế, trường học và tiện ích công cộng khác.
b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc:
Bảo tồn và phát huy cấu trúc, không gian đô thị cũ - thành phố vườn, duy trì và khôi phục các không gian công cộng, quảng trường, không gian xanh, vườn hoa và các yếu tố tạo thành tổng thể kiến trúc có giá trị; Bảo tồn các tuyến phố có nhiều kiến trúc đặc trưng và các tuyến phố có nhiều biệt thự cũ xây dựng trước năm 1954.
Bảo tồn, tôn tạo kiến trúc và các công trình có giá trị lịch sử, văn hóa và cách mạng, các công trình kiến trúc có giá trị được xây dựng trước và sau năm 1954, các di tích lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và các công trình có giá trị khác. Quản lý chặt chẽ chức năng công trình, chức năng sử dụng đất nhằm hạn chế, tiến tới giảm dân số, giảm áp lực để ưu tiên phát triển hạ tầng đô thị cho khu vực, đặc biệt tại các quỹ đất sau khi di dời các cơ sở theo định hướng quy hoạch chung.
Tăng cường chất lượng và sự đa dạng về cảnh quan trong Khu phố cũ, phát triển hệ thống không gian mở, các tuyến đi bộ kết nối các quảng trường với công trình văn hóa, thương mại và dịch vụ. Việc cải tạo, xây dựng công trình kiến trúc trong khu vực khu phố cũ phải tuân thủ định hướng bảo tồn, phát huy không gian đặc trưng khu vực và các khu vực di sản, công trình kiến trúc có giá trị, phù hợp với quy hoạch phân khu đô thị và các quy định liên quan đến khu vực khác, với tầng cao xây dựng đặc trưng là 4-6 tầng, chiều cao khoảng 16-22m. Các khu vực, công trình xây dựng có chiều cao khác được xem xét trên cơ sở vị trí, đặc điểm tính chất công trình và các quy định cụ thể tại Phụ lục 08.
Việc quản lý quy hoạch, kiến trúc đối với các khu vực phụ cận được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy định của Quy chế này và phải đảm bảo sự phù hợp, đồng bộ với quy hoạch, kiến trúc của khu vực thuộc Khu phố cũ Hà Nội.
(Chi tiết tại Phụ lục 08 kèm theo Quy chế này).
6. Khu vực Hồ Tây và phụ cận.
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Khu vực cơ bản vẫn giữ được hình thái không gian cảnh quan mặt nước, các bán đảo, các con đường ven hồ tự nhiên với các khu vực dân cư, khách sạn, dịch vụ công cộng có chiều cao và mật độ xây dựng hạn chế trên nền phát triển từ các làng cũ quanh hồ được đô thị hóa, bao quanh kết hợp xen lẫn với các không gian xanh, cây xanh tạo nên một khu vực đô thị di sản sinh thái tự nhiên đặc biệt quan trọng phía Tây Bắc khu vực trung tâm và trong lòng Hà Nội. Các tuyến đường chính của khu vực bao gồm Thanh Niên, Nghi Tàm, Yên Phụ, Âu Cơ, Lạc Long Quân, Thụy Khuê và các tuyến đường ven hồ chạy mềm mại theo bờ hồ và địa hình tự nhiên, đặc biệt tại khu vực phía Bắc có các tuyến Nghi Tàm, Âu Cơ là đê Sông Hồng có sự biến đổi về cốt nền cao độ, không gian thị giác tạo nên các đặc điểm địa hình cảnh quan khác cốt đẹp và độc đáo của khu vực.
Kiến trúc cảnh quan, công trình tại khu vực phần lớn có tính chất đặc trưng gắn bó hài hòa với mặt nước, gồm chủ yếu các biệt thự, nhà ở nhỏ có xu hướng kiến trúc sinh thái, điểm xuyết các công trình dịch vụ, nghỉ dưỡng, khách sạn lớn, quy mô hoặc cao tầng về cơ bản tạo nên một số điểm nhấn về chiều cao tương đối phù hợp.
Với đặc điểm mặt nước lớn, hồ Tây cũng là vị trí tốt nhất phản ánh được các hướng góc nhìn tạo hình bóng đô thị toàn cảnh trung tâm Hà Nội khi đứng từ các điểm nhìn quanh hồ, là khu vực không gian đặc biệt quan trọng thể hiện bộ mặt kiến trúc đô thị của Thành phố.
b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc:
Trên cơ sở đặc trưng cảnh quan và cấu trúc không gian đô thị xung quanh Hồ Tây, phân chia các khu vực nhằm quy định, kiểm soát kiến trúc cảnh quan như sau: Hệ thống giao thông; Các không gian cây xanh công viên - mặt nước; Các không gian công cộng đô thị, hỗn hợp, cơ quan...; Các không gian đơn vị ở (khu vực dân cư làng xóm hiện có, xây mới...).
Phát triển đô thị theo hình thái tự nhiên, dựa vào cảnh quan tự nhiên hiện có, lấy hồ Tây làm trung tâm; kết hợp hệ thống mặt nước tự nhiên bao gồm Hồ Tây và các hồ khác trong khu vực như hồ Quảng Bá, hồ Đàm Bảy, Hồ Thủy Sứ, hồ Hùng Đồng, hồ Đầm trị... tạo sự kết nối không gian xanh giữa Hồ Tây và khu vực lang xanh dọc hai bên sông Hồng.
Cấu trúc không gian được tổ chức theo các dải, lớp tạo bởi các tuyến đường xung quanh hồ Tây. Lớp 1 là không gian được giới hạn từ đường kè hồ Tây đến đường Lạc Long Quân, Âu Cơ, Nghi Tàm, Thụy Khuê; lớp 2 được giới hạn từ đường đường Lạc Long Quân đến đường Vành đai 2 và từ đường Thụy Khuê đến đường Hoàng Hoa Thám. Hình thành tuyến trục lõi trung tâm, cảnh quan chính kết nối với không gian sông Hồng và Cổ Loa, trên trục hình hành một số công trình điểm nhấn, thấp dần về phía hồ Tây.
Không gian đô thị được xác lập chủ yếu là công trình thấp tầng, bố trí hạn chế một số công trình cao tầng tại các trục không gian và điểm nhấn được xác định theo quy hoạch khu vực bán đảo Quảng An, thiết kế đô thị được phê duyệt và các quy định tại Quy chế này.
Hình 4. Khu vực Hồ Tây và phụ cận
Cấu trúc không gian đô thị được tổ chức theo các tuyến đường xung quanh hồ và điểm kết của trục hướng tâm.
Trong các đơn vị ở chủ yếu là cải tạo trên cơ sở khu vực làng xóm cũ; theo hướng tăng cường hệ thống hạ tầng kỹ thuật, giao thông, cây xanh hạ tầng xã hội. Có các giải pháp giữ được cấu trúc, không gian làng xóm; khuyến khích tăng diện tích sân vườn, hình thức công trình kiến trúc truyền thông. Hình thành những vùng đệm giữa khu vực phát triển mới lân cận và Hồ Tây tạo sự hài hòa chuyển đổi dần về không gian cũng như giải quyết các vấn đề về kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
Các công trình di tích đình chùa khác được tôn tạo, quản lý về hình thức kiến trúc, chiều cao, khoảng cách công trình xung quanh di tích; kiểm soát việc xây dựng các công trình lân cận không làm ảnh hưởng đến cảnh quan khu di tích.
7. Khu vực vành đai xanh sông Nhuệ.
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Vành đai xanh sông Nhuệ nằm trong hệ thống Không gian xanh của Thành phố, là dải không gian chủ yếu bao gồm các khu vực dân cư hiện hữu, làng mạc, các cơ quan xen lẫn với các khu vực đồng ruộng, cây xanh chạy dọc theo 2 bên bờ Sông Nhuệ nhằm góp phần thiết lập vùng đệm xanh giữa khu vực nội đô và vùng phát triển mới phía Đông đường vành đai 4.
Hình 5. Hệ thống Vành đai xanh sông Nhuệ.
b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc:
Tạo lập không gian mở công cộng và các tiện ích vui chơi giải trí có quy mô lớn.
Nâng cao chất lượng nước và hình ảnh sông Nhuệ và nhánh sông Tô Lịch.
Bảo tồn các vùng nông nghiệp sinh thái (cây ăn quả, trồng hoa,...).
Hình thành các công viên đô thị hoặc công viên chuyên đề phù hợp với nhu cầu phát triển của đô thị và đặc trưng văn hóa riêng trong các khu vực.
Cho phép tồn tại các làng xóm, làng nghề thủ công truyền thống không gây ô nhiễm môi trường.
Giải pháp kiểm soát phát triển nhằm cải thiện môi trường, giao thông và bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử cảnh quan.
Giải quyết các tồn tại về đầu tư xây dựng tại các làng hiện hữu và các dự án đã được phê duyệt.
Bảo vệ và kiểm soát phát triển nghiêm ngặt, để làm vùng đệm tách biệt khu vực nội đô với vùng đô thị mở rộng phía Nam của đô thị trung tâm.
8. Khu vực hai bên sông Hồng đoạn đi qua khu vực đô thị trung tâm.
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Khu vực hai bên sông Hồng là hành lang sinh thái mặt nước - cây xanh của toàn bộ trung tâm và Thành phố Hà Nội, với hình thái cảnh quan nguyên bản là các khu bờ bãi, ruộng vườn chạy dọc hai bên bờ sông, hiện tại có sự khác nhau về cấu trúc không gian và chất lượng cảnh quan ven sông.
Không gian cảnh quan ven sông Hồng chịu tác động lớn từ chế độ thủy văn khá đa dạng, mực nước ở Hà Nội dao động từ +1,41 đến +14,8 m vào các thời điểm khác nhau trong năm, sông cũng mang theo một lượng lớn trầm tích phù sa, đặc biệt khi có lũ lụt. Chế độ thủy văn này trở nên ổn định hơn nhiều khi xây dựng thủy điện Hòa Bình và một loạt các đập thủy điện trên thượng nguồn, có thể tạo điều kiện cho khai thác cảnh quan ven sông ở nhiều mức độ khác nhau theo tần suất lũ.
Các địa điểm gắn với kiến trúc cầu tạo ra cơ hội phát triển các không gian giải trí khu vực ven bờ tả sông Hồng. Quá trình xâm lấn của các lớp nhà ở hiện cảnh quan đang ảnh hưởng khả năng kết nối của trung tâm đô thị và trải nghiệm cảnh quan với cảnh quan ven sông.
Tại các nơi hai bên bờ sông, đặc biệt bờ hữu còn có quỹ đất không chỉ phục vụ phát triển nông nghiệp mà còn có thể xem xét cải tạo chỉnh trang thành các công viên ven sông dạng tuyến tính và là yếu tố sinh thái quan trọng trong cấu trúc của hệ sinh thái đô thị cũng như mở rộng không gian sinh hoạt cộng đồng hiệu quả.
b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc:
Đoạn R1-R2: Được định hướng phát triển không gian kiến trúc cảnh quan sinh thái, bảo tồn thiên nhiên, kết nối với không gian nêm xanh (thuộc phân khu đô thị GS tại bờ hữu và phân khu đô thị GN tại bờ tả sông Hồng) với mật độ xây dựng thấp, tầng cao chủ yếu thấp tầng và một vài công trình cao tầng quanh cầu Thượng Cát gắn với các đầu mối giao thông như cảng Thượng Cát, depot đường sắt tạo điểm nhấn cho khu vực.
Đoạn R3-R4: Được định hướng là khu vực hỗn hợp đa chức năng tập trung các không gian công cộng, công viên cây xanh. Tại khu vực bờ hữu sông Hồng, khu vực tiếp giáp với các phân khu đô thị H2-1, H2-4 được tổ chức các không gian công viên đô thị và bảo tồn các khu vực dân cư hiện hữu. Các không gian tiếp giáp với phân khu đô thị A6, H1-1, H1-2, H1-3, H1-4 được định hướng phát triển các không gian đa chức năng cùng với một số công trình công cộng văn hóa quan trọng mang tính chất điểm nhấn của toàn khu vực phía bên bờ hữu sông Hồng. Tại bờ tả sông Hồng, ngoài các khu vực dân cư hiện hữu thấp tầng được phát triển các khu chức năng đô thị hiện đại với các công trình công cộng đô thị, nhà ở đa dạng loại hình từ thấp tầng đến cao tầng tạo điểm nhấn cho toàn bộ không gian cảnh quan sông Hồng cùng các công viên đô thị hai bên bờ sông và bãi giữa sông Hồng.
Đoạn R5: Ở phía Nam khu vực nghiên cứu được định hướng bao gồm chủ yếu là các không gian làng xóm bảo tồn, công viên đô thị và công viên chuyên đề, cùng khu vực phát triển các chức năng đô thị kết hợp với các cảng hàng hóa, bến thủy nội địa phục vụ du lịch. Khu vực này chủ yếu xây dựng thấp tầng, nhà ở dạng sinh thái, chỉ bố trí một vài công trình điểm nhấn tại vị trí các công trình đầu mối như bến cảng, bến thủy,...
Đối với liên kết không gian chạy dọc theo sông Hồng, khu vực gắn liền với khu vực nội đô lịch sử tại bờ hữu và các phân khu đô thị N8, N9, N10 tại bờ tả được tập trung xây dựng các không gian đa chức năng, công cộng văn hóa có quy mô lớn với hệ số sử dụng đất cao. Đối với liên kết không gian hướng ra sông Hồng, các công viên ven sông, các công trình công cộng văn hóa gắn liền với trục không gian văn hóa Hồ Tây - Cổ Loa là các khu vực quan trọng khi tiếp cận ra phía bờ sông. Các tuyến điểm nhấn quan trọng bao gồm các công trình cao tầng hai bên cầu về phía Bắc sông Hồng (bờ tả), các cây cầu qua sông, và các trục không gian như trục văn hóa Hồ Tây - Cổ Loa, công viên hai bên sông và công viên bãi giữa sông Hồng. Các điểm nhìn quan trọng là tại các cầu qua sông, đặc biệt hướng về khu vực nội đô. | Hình 6. Sơ đồ khu vực hành lang xanh dọc hai bên sông Hồng |
9. Khu vực trục Hồ Tây - Ba Vì.
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Là trục không gian cảnh quan mới phía Tây Thành phố, liên kết các không gian cảnh quan lớn từ Ba Đình - Hồ Tây - Tây Hồ Tây - Trung tâm văn hóa du lịch Ba Vì. Tuyến trục này có ý nghĩa quan trọng về giao thông và kết nối các vùng văn hóa và lịch sử Thăng Long - Xứ Đoài. Trục Hồ Tây - Ba Vì là trục xây dựng mới từ đường Hoàng Quốc Việt đến quốc lộ 21 (đoạn từ đường Hoàng Quốc Việt kéo dài đến đường quốc lộ 32 sẽ có giải pháp đi ngầm hoặc nổi tùy thuộc vào thực trạng),
Trên trục có thể tạo dựng trục không gian cảnh quan đặc trưng, các công trình kiến trúc hiện đại, không gian quảng trường đi bộ, công trình văn hóa trung tâm - nơi tổ chức các lễ hội văn hóa dân gian.
b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc:
Kết hợp đồng bộ không gian Đại lộ Thăng Long, Quốc lộ 6; xây dựng trục kết nối văn hóa Thăng Long - Xứ Đoài, kết nối không gian kiến trúc cảnh quan giữa trung tâm Thủ đô với thành phố phía Tây và kết nối với các tỉnh lân cận.
Đối với đoạn tuyến đi trong đô thị trung tâm, tạo lập không gian điểm nhấn mới của Thủ đô, ưu tiên bố trí các công trình công cộng quốc gia và thành phố như: công trình văn hóa, thương mại, dịch vụ, tài chính, các quảng trường lớn, không gian giao lưu cộng đồng gắn với công viên vui chơi giải trí lớn của Thủ đô, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế, không gian cảnh quan và tính khả thi triển khai đầu tư xây dựng.
Đối với đoạn tuyến đi ngoài đô thị trung tâm, tổ chức giao thông có quy mô phù hợp, với hướng tuyến được xác định trên cơ sở thực tế của địa hình và giảm thiểu cắt qua làng xóm.
10. Khu không gian Thành Cổ loa (công trình di tích).
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị:
Là khu di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đặc biệt. Có đặc điểm hình thái đa dạng, đặc sắc với ba hệ giá trị Lịch sử - Nhân văn - Sinh thái đã hòa quyện vào nhau thành một phức hợp thể cộng sinh độc đáo, tồn tại ở các quy mô khác nhau, từ tổng thể đến từng cụm hoặc di tích đơn lẻ, trong môi trường cảnh quan và kiến trúc thuần nông thôn.
Khu di tích thành Cổ Loa nằm trong các nêm xanh phía Bắc sông Hồng, tham gia vào hệ sinh thái tự nhiên dọc lưu vực các sông Cà Lồ - đầm Vân Trì - sông Hoàng Giang- sông Hồng; là khu vực hạn chế phát triển và duy trì bản sắc văn hóa nông thôn.
Ranh giới, vị trí khu vực: Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích thành Cổ Loa (tỷ lệ 1/2000) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1004/QĐ-TTg ngày 03/7/2015. Theo đó: Quy mô khoảng 860,4 ha, được phân theo 04 phân vùng như sau:
Phân vùng Lõi: Khoảng 31,2 ha, bao gồm Thành Nội và khu Cánh cung phía Nam Thành Nội; tập trung đậm đặc các quần thể di tích tưởng niệm thời kỳ An Dương Vương. Ưu tiên tối đa bảo tồn, phát huy khai thác giá trị cốt lõi của Khu di tích.
Phân vùng Trung: Khoảng 225,3 ha, từ thành Trung đến phân vùng Lõi; tập trung phần lớn các thôn xóm hiện hữu. Ưu tiên cải tạo và chỉnh trang khu dân cư, gìn giữ cấu trúc định cư truyền thống, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định và nâng cao chất lượng sống khu dân cư.
Phân vùng Ngoại: Khoảng 247,3 ha, từ hào thành Ngoại vào đến phân vùng Trung; phần lớn là đất nông nghiệp và các thôn xóm nhỏ rải rác. Ưu tiên bảo tồn, phát triển khai thác môi trường sinh thái. Chỉnh trang khu vực cửa ngõ Loa khẩu lối vào khu di tích.
Phân vùng Biên: Khoảng 356,6 ha, từ ranh giới quy hoạch vào đến phân vùng Ngoại, đóng vai trò vùng đệm của khu di tích. Bảo vệ và tiếp tục các nghiên cứu khảo cổ học tại các di chỉ hiện có. Bảo tồn di sản vật thể, chỉnh trang các điểm dân cư các thôn San, Mạch Tràng.
Hình 7. Khu di tích thành Cổ Loa | b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc: Các công trình đã được xếp hạng theo pháp luật về Di sản văn hóa được xác định và quản lý theo Luật Di sản văn hóa. Quản lý thực hiện theo Quy hoạch Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích thành Cổ Loa được phê duyệt. Tuân thủ Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích thành Cổ Loa (tỷ lệ 1/2000) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1004/QĐ-TTg ngày 03/7/2015 và các quy định pháp luật hiện hành liên quan. |
Việc tu bổ, phục hồi công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng; việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc các cơ sở này thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.
Các công trình xây dựng mới: Cần hài hòa và phù hợp với tính chất, cảnh quan không gian và các giá trị di sản văn hóa, lịch sử, cách mạng, kiến trúc, nghệ thuật. Mọi sự chuyển đổi chức năng, thay đổi về quy mô cấu trúc và hình thức các công trình có giá trị phải được nghiên cứu cẩn trọng và phải được cơ quan quản lý chuyên ngành về di sản văn hóa thống nhất.
Quản lý thực hiện theo Quy hoạch Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích thành Cổ Loa được phê duyệt. Tuân thủ Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích thành Cổ Loa (tỷ lệ 1/2000) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1004/QĐ-TTg ngày 03/7/2015 và các quy định pháp luật hiện hành liên quan.
11. Khu không gian Thành cổ Sơn Tây (công trình di tích).
a) Hình thái không gian kiến trúc đô thị: Thành cổ Sơn Tây có vị trí tại trung tâm thị xã Sơn Tây, Hà Nội với tổng diện tích khoảng 12 ha; là công trình kiến trúc quân sự cổ với các kiến trúc độc đáo như: tường thành bằng đá ong, 4 cổng thành xây bằng gạch cổ. b) Quy định về bảo tồn và phát triển không gian kiến trúc: Quản lý thực hiện theo các quy định pháp luật hiện hành liên quan về di tích theo quy định pháp luật hiện hành | Hình 8. Khu di tích thành cổ Sơn Tây |
Việc tu bổ, phục hồi công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng; việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc các cơ sở này thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.