Điều 13. Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở
1. Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng đất hoặc nhà tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi. Trường hợp không thể có quỹ đất hoặc nhà tái định cư thì được bồi thường bằng tiền.
2. Trường hợp bồi thường bằng đất thì diện tích đất bồi thường tại nơi mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất theo quyết định của UBND tỉnh quy định về hạn mức giao đất ở đang có hiệu lực tại thời điểm được giao đất; trường hợp đất ở bị thu hồi có diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở nơi mới thì tuỳ theo quỹ đất hiện có, số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất, sau khi có đơn đề nghị của người bị thu hồi đất, Hội đồng BTHT&TĐC lập hồ sơ trình cấp có thẩm quyền xem xét để giao thêm diện tích đất nhưng không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.
3. Diện tích được tính bồi thường cụ thể như sau:
3.1. Những trường hợp thu hồi toàn bộ thửa đất
a) Trường hợp có giấy tờ tại khoản 1, Điều 8 của Quy định này trước ngày 16/11/2004 (Ngày Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành) thì diện tích đất ở được xác định lại theo mục c, khoản 1, Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ và người bị thu hồi đất được bồi thường theo giá đất ở đối với điện tích đất ở đã được xác định lại như sau:
Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 87 của Luật Đất đai, khoản 2 và 3 Điều 80 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ; hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được xác định lại và diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b) Trường hợp có giấy tờ tại khoản 2, Điều 8 của quy định này trước ngày 16/11/2004 (Ngày Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực thi hành) thì diện tích đất ở được xác định lại như có giấy tờ tại khoản 1, Điều 8 của quy định này;
c) Đối với đất ở có vườn, ao cùng một thửa trong khuôn viên nhà ở của hộ gia đình, nếu đủ điều kiện bồi thường về đất như quy định tại khoản 3, 4 và 7 Điều 8 bản Quy định này thì thực hiện việc bồi thường như sau:
- Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất từ trước ngày 18/12/1980, nếu trong hồ sơ địa chính hoặc các giấy tờ về QSDĐ có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở theo quy định tại khoản 2, Điều 87 của Luật Đất đai. Nếu trong hồ sơ địa chính và trên giấy tờ không ghi rõ ranh giới thì diện tích đất ở được xác định tối đa không quá 05 lần hạn mức đất ở theo quy định của UBND tỉnh cho khu vực đó nhưng tổng diện tích bồi thường không vượt quá tổng diện tích đất hộ gia đình đó đang sử dụng;
- Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 (Ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực) mà trên giấy tờ có ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó. Trường hợp trên giấy tờ không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo thực tế hộ gia đình đang sử dụng, nhưng tối đa không vượt quá 01 lần hạn mức quy định của UBND tỉnh cho khu vực đó;
Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ sinh sống, có nhiều hộ khẩu (Trước khi có quyết định thu hồi đất) mà diện tích đất bị thu hồi lớn thì tuỳ điều kiện cụ thể Chủ tịch UBND cấp phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ quyết định để hỗ trợ thêm diện tích đất ở khi tính bồi thường.
d) Những trường hợp có giấy tờ về đất như quy định tại khoản 6, 8, 9 và 12 Điều 8 bản Quy định này thì diện tích đất ở được bồi thường được xác định theo thực tế hộ gia đình đang sử dụng, nhưng tối đa không vượt quá 01 lần hạn mức quy định của UBND tỉnh cho khu vực đó;
Sau khi bồi thường diện tích đất ở như quy định trên, phần diện tích đất còn lại trong khuôn viên được tính bồi thường đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư như tại khoản 3, Điều 10 bản Quy định này.
3.2. Những trường hợp chỉ thu hồi một phần diện tích đất của thửa đất thì diện tích đất tính bồi thường (Trong phần diện tích thu hồi) được xác định như sau:
Về nguyên tắc thu hồi đất gì thì bồi thường theo giá đất có cùng mục đích sử dụng. Nếu trên giấy tờ đất không ghi rõ ranh giới từng loại đất đang sử dụng thì việc xác định loại đất để tính bồi thường như sau:
- Nếu tổng diện tích đất đang sử dụng của đối tượng bị thu hồi bằng hoặc nhỏ hơn diện tích đất ghi trong giấy tờ thì diện tích tính bồi thường là diện tích thực tế bị thu hồi với loại đất do cơ quan thu hồi đất xác định theo tỷ lệ tương ứng giữa diện tích đất thực tế sử dụng và diện tích đất thu hồi;
- Nếu tổng diện tích đất đang sử dụng của đối tượng bị thu hồi lớn hơn diện tích đất ghi trong giấy tờ được giao thì bồi thường diện tích đất ở (Diện tích đất ở) được xác định như sau:
Diện tích bị thu hồi
DT đất ở = X DT đất ở xác định như khoản 3.1, Điều 13
Tổng diện tích đất thực tế sử dụng
Diện tích đất còn lại được bồi thường, hỗ trợ theo loại đất như quy định tại khoản 3, Điều 10 bản Quy định này.
Hội đồng BTHT&TĐC có trách nhiệm xác định diện tích đất ở tại Điều 13 bản Quy định này và công khai trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.