Điều 4. Nguyên tắc và căn cứ xét khen thưởng
1. Thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật Thi đua, khen thưởng và Điều 4 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ.
2. Việc khen thưởng phải căn cứ vào thành tích đạt được của từng tập thể, cá nhân; thành tích đề nghị khen thưởng phải rõ ràng, cụ thể, đạt được ở mức độ nào thì khen thưởng ở mức độ đó. Khen thưởng đột xuất, khen thưởng theo chuyên đề không nhất thiết theo trình tự từ mức khen thấp đến mức khen cao; khen thưởng thành tích hàng năm nhất thiết phải từ mức khen thấp đến mức khen cao. Khen thưởng quá trình cống hiến chỉ xét 01 lần cho 01 đối tượng đã nghỉ hưu hoặc trước khi nghỉ hưu nhưng thời gian đề nghị trước khi nghỉ hưu không quá 02 năm (nếu hạng huân chương không thay đổi so với sau khi nghỉ hưu).
3. Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ, đơn vị cơ sở, hộ gia đình, cá nhân là công chức, viên chức, công nhân trực tiếp sản xuất, công tác, nông dân sản xuất giỏi có thành tích xuất sắc; khen thưởng gương người tốt việc tốt có hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản; cán bộ, công chức, viên chức tình nguyện về công tác ở khu vực hải đảo, vùng sâu, vùng xa của tỉnh; các lĩnh vực trọng yếu, khó khăn, độc hại, nguy hiểm; cá nhân, tập thể từ yếu kém vươn lên... Thủ trưởng cơ quan, đơn vị cấp trên có trách nhiệm theo dõi, xem xét quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng cho cấp dưới trực tiếp, không nhất thiết phải cấp dưới đề nghị mới khen thưởng.
4. Những trường hợp bị xử lý kỷ luật thì không xét khen thưởng; những trường hợp đang xem xét xử lý kỷ luật, hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo nhưng chưa được xác minh làm rõ thì chưa xét khen thưởng.