vanban.org

Điều 42. Kiểm kê bắt buộc và cưỡng chế thu hồi đất — Quyết định 58/2009/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 18/06/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 18/06/2015 Sửa đổi, bổ sung: 11/2014/QĐ-UBND · 11/06/2014
Bình Phước Ban hành 22/12/2009 Hiệu lực 01/01/2010 Hết hiệu lực toàn bộ 7 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 5 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 58/2009/QĐ-UBND Ban hành quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước · 58/2009/QĐ-UBND
18/06/201513/2015/QĐ-UBNDThay cụm từ Đang xem 21/06/201411/2014/QĐ-UBNDSửa đổi 01/01/2010Bản gốcThay thế
Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 18/4/2008 của UBND tỉnh · 29/2008/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 58/2009/QĐ-UBND › Chương VI › Điều 42
Đọc toàn văn

Điều 42. Kiểm kê bắt buộc và cưỡng chế thu hồi đất

1. Kiểm kê bắt buộc: Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân bị thu hồi đất đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không tham gia kê khai theo thời gian quy định, vắng mặt hoặc cố ý gây cản trở, không hợp tác với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì sẽ phải tiến hành kiểm kê bắt buộc theo quy định. Nguyên tắc, trình tự, thủ tục quy định cụ thể theo quyết định của UBND tỉnh về việc Quy định trình tự, thủ tục kiểm kê bắt buộc hiện trạng khuôn viên nhà, đất và tài sản gắn liền với đất để phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

2. Cưỡng chế thu hồi đất: Theo quy định tại khoản 3, Điều 39 của Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Thực hiện đúng trình tự, thủ tục về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định tại Điều 38, 40 và 41 Quy định này;

b) Quá ba mươi (30) ngày, kể từ thời điểm phải bàn giao đất quy định tại khoản 4, Điều 41 Quy định này mà người có đất bị thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng;

c) Sau khi đại diện của tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã nơi có đất thu hồi đã vận động thuyết phục nhưng người có đất bị thu hồi không chấp hành việc bàn giao đất đã bị thu hồi cho nhà nước;

d) Có quyết định cưỡng chế của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đã có hiệu lực thi hành;

đ) Người bị cưỡng chế đã nhận được quyết định cưỡng chế. Trường hợp người bị cưỡng chế từ chối nhận quyết định cưỡng chế thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết công khai quyết định cưỡng chế tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi.

2. Sau mười lăm (15) ngày, kể từ ngày giao trực tiếp quyết định cưỡng chế hoặc ngày niêm yết công khai quyết định cưỡng chế quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này mà người bị cưỡng chế không bàn giao đất thì Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo, tổ chức lực lượng cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của pháp luật.