Điều 18. Bồi thường đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn
1. Người có đất bị thu hồi được bồi thường, hỗ trợ đối với đất và tài sản gắn liền với đất đã có từ trước khi hành lang an toàn công trình công cộng được công bố.
Mốc thời gian xây dựng công trình nằm trong hành lang an toàn đường bộ do các đơn vị quản lý đường bộ phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ tài liệu điều tra, lưu trữ xác định theo các mốc giới thời gian sau đây:
a) Công trình xây dựng trước ngày 21 tháng 12 năm 1982: thời gian chưa có quy định cụ thể về hành lang an toàn đường bộ.
b) Công trình xây dựng từ ngày 21 tháng 12 năm 1982 đến ngày 31 tháng 12 năm 1999: Cấm xây dựng, cơi nới trong hành lang bảo vệ đường bộ theo Nghị định số 203/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
c) Công trình xây dựng từ ngày 01 tháng 01 năm 2000 đến ngày 30 tháng 11 năm 2004: giai đoạn cấm xây dựng, cơi nới trong hành lang bảo vệ đường bộ theo Nghị định số 172/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông đối với công trình giao thông đường bộ.
d) Công trình xây dựng sau ngày 30 tháng 11 năm 2004: giai đoạn cấm xây dựng, cơi nới trong hành lang an toàn theo Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
2. Trường hợp nhà nước không thu hồi đất thì đất nằm trong phạm vi hành lang an toàn được bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất như sau:
a) Trường hợp làm thay đổi mục đích sử dụng đất thì được bồi thường bằng tiền theo mức chênh lệch về giá trị quyền sử dụng đất, cụ thể:
a.1) Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất ở sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở), từ đất ở sang đất nông nghiệp thì bồi thường bằng chênh lệch giữa giá đất ở với giá đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở), giữa giá đất ở với giá đất nông nghiệp;
a.2) Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) sang đất nông nghiệp thì bồi thường bằng chênh lệch giữa giá đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) với giá đất nông nghiệp.
b) Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất (nhà ở, công trình đủ điều kiện tồn tại trong hành lang bảo vệ an toàn của công trình), nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng thì được bồi thường bằng tiền theo mức thiệt hại thực tế. Mức bồi thường bằng diện tích đất bị hạn chế sử dụng nhân với chênh lệch giá giữa giá đất tại thời điểm trước trừ giá đất tại thời điểm sau khi có quyết định thu hồi đất. Mức cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế từng dự án.
3. Trường hợp việc sử dụng đất gây ảnh hưởng đến việc bảo vệ an toàn công trình thì người sử dụng đất phải có trách nhiệm khắc phục, chủ công trình phải chịu trách nhiệm đối với việc khắc phục đó, nếu không khắc phục được thì Nhà nước thu hồi đất và người bị thu hồi đất được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định.
4. Đất thuộc hành lang bảo vệ đường bộ trong các trường hợp được nhà nước giao, cấp, cho thuê từ quỹ đất công (có hoặc không có thu tiền sử dụng đất), được nhà nước bán hóa giá nhà thuộc sở hữu nhà nước mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đã trừ diện tích hành lang bảo vệ đường bộ không xem xét bồi thường.
5. Giá bồi thường đất hành lang bảo vệ đường bộ được áp dụng theo nguyên tắc sau:
a) Đất hành lang bảo vệ đường bộ liền kề với đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp nhưng không phải là đất ở thì bồi thường theo giá đất nông nghiệp.
b) Đất hành lang bảo vệ đường bộ liền kề với đất ở được bồi thường theo giá đất ở nhưng tổng diện tích của cả thửa đất không được vượt hạn mức đất ở theo quy định tại thời điểm giao đất, nếu chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì theo hạn mức đất ở lúc bồi thường giải tỏa. Trường hợp vượt hạn mức đất ở thì phần vượt hạn mức được bồi thường theo giá đất nông nghiệp.