Điều 11. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại
1. Chi phí hợp lý đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế người sử dụng đất đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng mà đến thời điểm nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ, thực tế chứng minh. Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định bằng tổng chi phí hợp lý tính thành tiền đầu tư vào đất trừ đi số tiền tương ứng với thời gian đã sử dụng đất. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm:
a) Tiền sử dụng đất của thời hạn chưa sử dụng đất trong trường hợp giao đất có thời hạn, tiền thuê đất đã nộp trước cho thời hạn chưa sử dụng đất (có chứng từ hóa đơn nộp tiền);
b) Các khoản chí phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất theo hiện trạng của đất khi được giao, được thuê và phù hợp với mục đích sử dụng đất. Trường hợp thu hồi đất phi nông nghiệp hoặc đất ở mà đã được bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp hoặc đất ở thì không được bồi thường chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất;
c) Các khoản chi phí khác có liên quan.
2. Trường hợp đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của Ủy ban nhân dân cấp xã thì không được bồi thường về đất, người thuê đất công ích của Ủy ban nhân dân cấp xã được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;
3. Đối với các tổ chức kinh tế đang thuê đất nhưng đất thuê có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ hộ gia đình, cá nhân mà tiền nhận chuyển nhượng không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất theo giá bồi thường của loại đất khi nhận chuyển nhượng tại thời điểm thu hồi đất, trừ (-) đi số tiền đã được khấu trừ vào tiền thuê đất phải nộp (nếu có).
4. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại trình cơ quan Tài nguyên và Môi trường thẩm định trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt cho phù hợp với thực tế tại địa phương.