Điều 20. Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất
1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân, được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ Xây dựng ban hành. Giá trị xây dựng mới của nhà, công trình được tính theo diện tích xây dựng của nhà, công trình nhân với đơn giá xây dựng mới của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.
a) Nhà ở có giấy tờ hợp pháp được bồi thường 100% theo đơn giá qui định
b) Nhà, công trình không có giấy phép xây dựng thì tùy theo mức độ, tính chất hợp pháp của đất, nhà và công trình được bồi thường hoặc hỗ trợ theo quy định sau:
b.1) Nhà ở và các công trình xây dựng trên đất có một trong các giấy tờ được quy định Điều 8, Điều 9 Quy định này thì được bồi thường 100% theo đơn giá quy định.
b.2) Nhà ở và các công trình xây dựng trên đất không có một trong các giấy tờ được quy định tại Điều 8, Điều 9 Quy định này hoặc xây dựng trái với mục đích sử dụng đất được giao nhưng tại thời điểm xây dựng chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền công bố hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình thì được hỗ trợ bằng 80% theo đơn giá quy định.
b.3) Nhà ở, công trình xây dựng được xây dựng trước ngày 01/7/2004 trên đất không có một trong các giấy tờ được quy định tại Điều 8, Điều 9 mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì không được bồi thường; mà chỉ được xem xét hỗ trợ tiền công phá dỡ không quá 30% giá trị của căn nhà theo đơn giá quy định (có biên bản xem xét đề xuất của tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng theo mức độ vi phạm).
b.4) Nhà ở, công trình xây dựng trên đất không có một trong các giấy tờ được quy định tại Điều 8, Điều 9 mà khi xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo không được phép xây dựng thì không được bồi thường, không được hỗ trợ; người có công trình xây dựng trái phép đó buộc phải tự phá dỡ và tự chịu chi phí phá dỡ trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền thực hiện phá dỡ.
2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được bồi thường theo mức sau:
Mức bồi thường nhà, công trình bằng (=) Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại cộng (+) 10% giá trị hiện có.
Giá trị hiện có của nhà, công trình: Được xác định bằng tỷ lệ % chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do ngành xây dựng trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành nhưng tổng mức bồi thường tối đa không quá 100% và tối thiểu không dưới 40% theo đơn giá quy định.
3. Đối với công trình kết cấu hạ tầng, hạ tầng xã hội đang sử dụng thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật cùng cấp theo tiêu chuẩn kỹ thuật do cơ quan quản lý chuyên ngành ban hành; nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi thường.
Trong trường hợp công trình kết cấu hạ tầng thuộc dự án không sử dụng vốn ngân sách nhà nước mà chưa được xếp loại vào cấp tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc sẽ được nâng cấp tiêu chuẩn kỹ thuật thì được tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng thống nhất với cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư dự án để xác định cấp tiêu chuẩn kỹ thuật để bồi thường.
4. Đối với nhà chỉ tháo dỡ một phần
a) Nếu phần diện tích còn lại không còn sử dụng được nữa thì được bồi thường cho toàn bộ công trình theo quy định.
b) Nếu phần còn lại sử dụng được, thì được tính bồi thường phần công trình bị phá dỡ theo đơn giá quy định và được trợ cấp sửa chữa thêm 20% giá trị thiệt hại đã được bồi thường.
5. Đối với nhà, công trình có thể tháo rời và di chuyển đến chỗ ở mới để lắp đặt thì chỉ được bồi thường các chi phí tháo dỡ, vận chuyển lắp đặt và chi phí hao hụt trong quá trình tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt (do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đề xuất mức cụ thể, thông qua cơ quan Tài nguyên và Môi trường thẩm định).
6. Đơn giá bồi thường nhà ở, nhà xưởng, nhà tạm, công trình phụ áp dụng theo giá do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi.