Điều 8. Phương pháp xác định tính bồi thường đối với cây trồng lâu năm (theo Phụ lục II)
1. Đối với cây lâu năm được chia ra 04 giai đoạn sinh trưởng của cây trồng để xác định loại cây như sau:
Loại A: Cây trồng đang trong thời kỳ trưởng thành, cho quả, năng suất cao, ổn định.
Loại B: Cây đang thời kỳ sinh trưởng, cho quả chưa ổn định.
Loại C: Cây đang thời kỳ sinh trưởng, chưa cho trái (cây trong giai đoạn kiến thiết cơ bản).
Loại D: Cây mới trồng (dưới 1 năm).
(Riêng một số cây có thời gian từ trồng đến thu hoạch ngắn, có thể phân giai đoạn theo thực tế thời gian sinh trưởng)
2. Giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây để tính bồi thường được xác định như sau:
a) Đối với cây lâu năm giai đoạn mới trồng hoặc đang ở thời kỳ sinh trưởng, chưa cho trái (cây loại D, loại C) thì giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây là toàn bộ chi phí trồng cộng (+) chi phí chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất.
b) Đối với cây lâu năm thu hoạch nhiều lần đang ở thời kỳ cho quả (cây loại B, loại A), thì giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây được tính bồi thường là giá trị sản lượng của cây trồng cộng (+) chi phí thời kỳ kiến thiết cơ bản trừ (-) chi phí chăm sóc năm thực hiện đền bù.
3. Cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng có chứng nhận của cơ quan thẩm quyền, còn trong thời gian được phép khai thác được nhân hệ số 1,5 lần so với đơn giá tại Quyết định này.
4. Đối với trường hợp trên thửa đất thu hồi có nhiều loại cây trồng khác nhau thì tổng chi phí bồi thường trên một đơn vị diện tích bằng (=) chi phí bồi thường của từng loại cây đó cộng lại (trên cơ sở số lượng và đơn giá của từng loại cây đo đếm, kiểm tra hiện trạng thực tế).
5. Mật độ cây trồng: Mật độ cây trồng phải phù hợp với quy định tại Quyết định này (theo Phụ lục III).