vanban.org

Điều 8. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở trong trường hợp có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở (quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP) — Quyết định 50/2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 06/11/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 06/11/2024 Thay thế: 41/2024/QĐ-UBND · 06/11/2024
Lâm Đồng Ban hành 29/12/2017 Hiệu lực 15/01/2018 Hết hiệu lực toàn bộ 19 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 8 phiên bản · 11 năm
Quyết định 23/2026/QĐ-UBND Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 23/2026/QĐ-UBND
Quyết định số 41/2024/QĐ-UBND Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 41/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 50/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 50/2017/QĐ-UBND
06/11/202441/2024/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 15/01/2018Bản gốcThay thế
Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND Ban hành quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng · 12/2015/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 50/2017/QĐ-UBND › Chương I › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở trong trường hợp có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở (quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP)

1. Hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP mà trong hộ gia đình đó có từ 03 thế hệ trở lên, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc trường hợp có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi, thì giao một (01) lô đất ở theo giá tái định cư cho 01 hộ; các hộ còn lại mỗi hộ được thuê hoặc mua một (01) căn hộ chung cư, nếu không có nhà chung cư để bố trí thì được thay thế bằng việc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

2. Việc xác định hộ được giao lô đất ở tái định cư và các hộ còn lại đối với trường hợp hộ gia đình nêu tại Khoản 1 Điều này do các hộ tự thỏa thuận, lập thành văn bản, gửi đến Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng làm cơ sở cho việc lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định.

Nếu không tự thỏa thuận được thì các hộ lập hồ sơ gửi đến cơ quan Tòa án để đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này thì các hộ gia đình, cá nhân liên quan đến diện tích đất thu hồi vẫn phải thực hiện việc bàn giao mặt bằng theo quy định; về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được lập và phê duyệt áp dụng chung cho tất cả các hộ, việc phân chia cụ thể cho từng hộ được thực hiện sau khi có kết quả giải quyết theo quy định của pháp luật.

3. Mức diện tích đất ở, diện tích căn hộ chung cư giao cho các hộ gia đình nêu tại Khoản 1 Điều này do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định dựa trên cơ sở: Phù hợp với thực tế của từng dự án, diện tích đất thu hồi của từng hộ, diện tích các lô đất ở theo quy hoạch tại khu tái định cư, khu dân cư và diện tích của căn hộ chung cư đã hoàn thành.

Khi bồi thường bằng việc giao đất ở, căn hộ chung cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì thực hiện thanh toán bằng tiền phần chênh lệch đó theo quy định tại Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP). Khoản chênh lệch về giá trị mà người bị thu hồi đất được nhận hoặc phải nộp cho Ngân sách nhà nước được xác định cụ thể trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.