vanban.org

Điều 18. Bồi thường, hỗ trợ đất trống, đồi núi trọc do Nhà nước giao để trồng rừng hoặc đất đã có rừng trồng, rừng tự nhiên là rừng sản xuất do các tổ chức giao khoán để chăm sóc, bảo vệ. — Quyết định 499/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 14/10/2010 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 4/4 · từ 23/08/2014 Thay thế: 1766/2014/QĐ-UBND · 13/08/2014 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 2963/2010/QĐ-UBND · 04/10/2010
Quảng Ninh Ban hành 11/02/2010 Hết hiệu lực toàn bộ 9 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 499/2010/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh · 499/2010/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 499/2010/QĐ-UBND › Chương II › Điều 18
Đọc toàn văn

Điều 18. Bồi thường, hỗ trợ đất trống, đồi núi trọc do Nhà nước giao để trồng rừng hoặc đất đã có rừng trồng, rừng tự nhiên là rừng sản xuất do các tổ chức giao khoán để chăm sóc, bảo vệ.

1. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất trống đồi trọc sử dụng ổn định lâu dài đã tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng sản xuất trên diện tích đất được giao thì được bồi thường theo giá đất rừng sản xuất.

2. Bồi thường, hỗ trợ đất lâm nghiệp là đất rừng sản xuất trong trường hợp người sử dụng đất chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Người sử dụng đất lâm nghiệp được Nhà nước giao đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo đúng loại cây trồng do cấp có thẩm quyền cho phép thì được bồi thường về đất theo giá trị đất đã trồng loại cây được phép trồng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.

Trường hợp tự chuyển đổi cơ cấu cây trồng mà không được cấp có thẩm quyền cho phép thì chỉ được bồi thường, hỗ trợ theo mục đích sử dụng đất đã được giao, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi chuyển đổi.

3. Đối với đất lâm nghiệp (bao gồm đất đang có rừng trồng hoặc có rừng tự nhiên) do Nhà nước đã giao cho các tổ chức được Nhà nước giao quyền quản lý, sử dụng đất mà tổ chức đã giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân để khoanh nuôi tái sinh, chăm sóc, bảo vệ hoặc trồng rừng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước theo hợp đồng giao, khoán thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường về cây trồng trên đất theo quy định tại Điều 32 bản Quy định này.

Đối với đất lâm nghiệp là đất trống để trồng rừng đã giao cho các doanh nghiệp nay khoán lại cho hộ gia đình, cá nhân mà hộ gia đình, cá nhân đã tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng thì được hỗ trợ tương đương như bồi thường về đất theo quy định tại Khoản 1 Điều này.

4. Đối với đất lâm nghiệp đã quy hoạch là rừng sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước đã giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, hiện đang sử dụng đúng mục đích được giao thì được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều này.

Trường hợp sử dụng không đúng mục đích được giao thì không được bồi thường nhưng được hỗ trợ bằng 70% mức bồi thường quy định tại khoản 1 khoản 2 và khoản 3 Điều này.