Điều 29. Chế độ thông tin, báo cáo
1. Các Ban QLDA, chủ khoản viện trợ PCPNN có trách nhiệm thực hiện chế độ thông tin, báo cáo tình hình thực hiện các chương trình, dự án, khoản viện trợ phi dự án theo quy định tại khoản 1, 2, Điều 27 Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN ban hành kèm theo Nghị định 93/2009/NĐ-CP và Điều 9, 10, 11 Thông tư 07/2010/TT-BKH.
2. Đối với các báo cáo của UBND tỉnh theo quy định tại Điều 27 Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN ban hành kèm theo Nghị định 93/2009/NĐ-CP, Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm tổng hợp báo cáo trình Chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 25 tháng 7 hàng năm đối với báo cáo 6 tháng, và trước ngày 25 tháng 01 hàng năm đối với báo cáo năm; Tổng hợp, trình UBND tỉnh báo cáo đột xuất khi có yêu cầu về tình hình kết quả phê duyệt, quản lý các khoản viện trợ thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch UBND tỉnh.
3. Đối với các báo cáo của UBND tỉnh theo quy định tại khoản 3, Điều 28, Nghị định 12/2012/NĐ-CP ngày 01/3/2012 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam; Sở Ngoại vụ có trách nhiệm tổng hợp báo cáo 6 tháng và hàng năm hoặc báo cáo đột xuất, trình Chủ tịch UBND tỉnh xem xét gửi Bộ Ngoại giao và Ủy ban công tác về các tổ chức PCPNN theo quy định; Tổng hợp, trình UBND tỉnh báo cáo định kỳ 6 tháng, hàng năm hoặc đột xuất về tình hình tiếp nhận, sử dụng viện trợ phi dự án.
4. Các sở, ngành, tổ chức chính trị-xã hội có liên quan và UBND các huyện, thành phố báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh định kỳ 6 tháng, hàng năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu về tình hình vận động, tiếp nhận, sử dụng và quản lý viện trợ PCPNN (thông qua Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Ngoại vụ).
5. Mẫu biểu báo cáo tình hình thực hiện các khoản viện trợ PCPNN theo theo quy định tại Chương IV, Thông tư 07/2010/TT-BKH.