Điều 14. Chính sách thủy lợi phí đối với huyện, xã miền núi, vùng bơm điện:
1. Các hệ thống thủy lợi ở huyện xã miền núi mặc dù có chi phí cao hơn so với đồng bằng, mức thu TLP ghi tại mục 4 bảng 1 và giá thóc TLP ghi ở mục 3 là đã xét đến chính sách đối với hộ dùng nước ở miền núi được giám 2 khoản:
a) Giảm mức TLP cho huyện, xã miền núi thấp hơn so với đồng bằng từ 2kg đến 4kg cho 1 sào trong một vụ.
b) Giảm giá thóc TLP cho huyện, xã miền núi so với đồng bằng, theo giá thóc do UBND tỉnh quyết định hàng năm.
2. Để đảm bảo cho các công ty, xí nghiệp thủy lợi huyện miền núi thực hiện tốt tưới tiêu phục vụ sản xuất. Hàng năm UBND tỉnh cấp bù cho các Công ty, xí nghiệp huyện miền núi các khoản chênh lệch.
a) Cấp bù chênh lệch giá thóc TLP so với đồng bằng.
b) Cấp bù chênh, lệch mức TLP so với đồng bằng.
3. Các hệ thống thủy lợi tưới tiêu bằng bơm điện:
a) Do chi phí tiền điện cao, hàng năm UBND tỉnh trợ cấp một phần tiền điện cho Công ty, Xí nghiệp có bơm điện theo các mức sau:
- Hỗ trợ tiền điện và chi phí cho bơm tiêu úng.
- Hỗ trợ 40% tổng tiền điện bơm tưới trên toàn tỉnh theo định mức, 60% tiền điên bơm tưới theo định mức còn lại được cân đối từ TLP.
- Mức trợ cấp cho từng Công ty, Xí nghiệp phụ thuộc vào cột nước bơm tưới cao thấp... UBND tỉnh trợ cấp cho từng Công ty, Xí nghiệp huyện phần vượt 60% định mức bình quân toàn tỉnh.
b) Ngân sách tỉnh cấp bù lãi suất tiền vay cho các đơn vị sử dụng điện bơm nước tưới tiêu, vay Ngân hàng để trả tiền điện theo từng vụ sản xuất và từng loại cây trồng.