vanban.org

Điều 13. Những quy định chung về mức thu thủy lợi phí: — Quyết định 49/2003/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 03/06/2003 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Nghệ An Ban hành 19/05/2003 Hiệu lực 03/06/2003 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 2 phiên bản · 25 năm
Quyết định số 49/2003/QĐ-UB Về việc ban hành bản quy định về chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Nghệ An · 49/2003/QĐ-UB
03/06/2003Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 56/2001/QĐ-UB Về cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển thuỷ lợi tưới nước cho cây cà phê, cam, chè và tiêu úng giữ ẩm cây lạc · 56/2001/QĐ-UB
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 49/2003/QĐ-UB › Chương II › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Những quy định chung về mức thu thủy lợi phí:

1. Các hộ dùng nước được hưởng lợi từ tưới tiêu hoặc các dịch vụ khác về nước từ các công trình thủy lợi đều phải trả thủy lợi phí theo hợp đồng.

2. "Thủy lợi phí" là một phần phí dịch vụ về nước của công trình thủy lợi, để góp phần chi phí cho công tác tu bổ, vận hành và bảo vệ công trình thủy lợi, không được dùng TLP vào mục đích khác. Ngân sách tỉnh hỗ trợ cho công ty, xí nghiệp thủy lợi trong các trường hợp sau:

a) Hư hỏng công trình và mất mùa do thiên tai.

b) Bơm nước chống úng, hạn hán.

c) Tu bổ khai thác công trình thủy lợi vùng dân tộc thiểu số, vùng biên giới hải đảo, vùng kinh tế mới.

d) Đại tu, nâng cấp công trình.

3. Thủy lợi phí được tính bằng thóc trên đơn vị diện tích tưới tiêu, thu bằng tiền theo giá thóc, do UBND tỉnh quyết định hàng năm. Thủy lợi phí thu vào cuối vụ sản xuất hoặc được ứng trước theo hợp đồng giữa Doanh nghiệp thủy nông, tổ chức dịch vụ tưới tiêu với hộ dùng nước theo thỏa thuận.

4. Mức thủy lợi phí phụ thuộc vào:

a) Vụ sản xuất: đông xuân, hè thu, mùa.

b) Loại công trình tưới tiêu: tự chảy, bơm điện, bơm dầu.

c) Năng suất cây trồng bình quân của khu tưới, chi phí quản lý của hệ thống.

d) Mức đảm bảo về tưới cao hay thấp của hệ thống thuỷ lợi.

e) Chính sách giảm mức thủy lợi phí cho vùng miền núi so với vùng đồng bằng.

5. Mức thu thủy lợi phí của từng vụ sản xuất, từng hệ thống, từng huyện.

- Mức thủy lợi phí tưới tiêu cho lúa ổn định, cho từng vụ sản xuất, từng hệ thống từng huyện quy định như bảng 1 dưới đây:

Bảng 1

TT Loại công trình tưới tiêu, hệ thống tưới tiêu huyện Mức thuỷ lợi phí (kg thóc/sào)
Vụ đông xuân Vụ hè thu Vụ mùa
Tổng số C.ty XN thu D.vụ HTX thu Tổng số C.ty XN thu D.vụ HTX thu Tổng số C.ty XN thu D.vụ HTX thu
1 Tưới tiêu tự chảy HT Bắc                  
  - Vùng đầu kênh dễ tưới 13 11 2 12 10 2 10 8 2
  - Vùng đuôi kênh khó tưới 13 10 3 12 9 3 10 7 3
2 Tưới bằng hồ đập vừa, nhỏ                  
a Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Thanh Chương, An Sơn 12 10 2 12 10 2 10 8 2
b - Đô Lương, Nam Đàn, Nghi Lộc, và hồ Khe đá (Tân Kỳ). 11 9 2 11 9 2 9 7 2
c - Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Quỳ Châu 10 8 2 10 8 2 9 7 2
3 Tưới tiêu bằng bơm điện:                  
a - Tưới tiêu bằng bơm điện Hưng Nguyên (vùng trong) 16 14 2 16 14 2 14 12 2
b - Tưới bơm điện, tiêu tự chảy: Đô Lương, Nam Đàn 15 13 2 15 13 2 13 11 2
c - Tưới bơm điện, tiêu tự chảy: Thanh Chương, Anh Sơn, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Vinh, Nghi Lộc, Hưng Nguyên (Tây, Yên, Trung) 14 12 2 14 12 2 12 10 2
d - Tưới bơm điện, tiêu tự chảy: Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Con Cuông, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn 11 9 2 11 9 2 10 8 2

- Các mức thu thủy lợi phí khác được tính như sau:

+ Tưới tiêu cho lúa chưa ổn định lấy bằng 70% mức thu ở bảng 1.

+ Tưới cho mạ, màu, cây công nghiệp lấy hằng 40% mức thu ở bảng 1.

+ Cấp nước tạo nguồn bằng công trinh trọng lực để tưới, mở đường nước để tiêu lấy bằng 30% mức thu ở bảng 1.

+ Cấp nước tạo nguồn bằng công trình động lực để tưới lấy bằng 70% mức thu ở bảng 1.

6. Mức thu thủy lợi phí các công trình thủy lợi nhỏ:

a) Công trình thủy lợi do Nhà nước đầu tư xây dựng, giao cho xã, HTX quản lý, mức thu như ở bảng 1 và chỉ được sử dụng cho tu bổ, vận hành và bảo vệ công trình. Hàng năm trích khấu hao cơ bản, sửa chữa lớn. Khi sửa chữa lớn, nâng cấp công trình phải được cấp trên có thẩm quyền phê duyệt.

b) Công trình thủy lợi do xã, HTX... bỏ vốn xây dựng mức thủy lợi phí do địa phương (xã, HTX) quy định nhưng không vượt quá mức quy định ở bảng 1. Trường hợp do chi phí sản xuất cao, cần phải tăng mức thu thì phải thông qua Hội nghị hộ dùng nước (hoặc HĐND xã).

c) Phần kênh mương nội đồng của hệ thống thủy lợi do Công ty, xí nghiệp thủy lợi quản lý giao cho địa phương bảo vệ, sử dụng dịch vụ của địa phương thu mỗi sào từ 2kg - 3kg thóc mỗi vụ như quy định ở bảng 1 để phục vụ điều hành phân phối nước và tu sửa công trình.

7. Thu phí phục vụ vận tải thủy trên hệ thống thủy lợi:

Thuyền bè, xà lan qua âu, qua cửa thông thuyền, tùy thuộc trọng tải thuyền kích thước, xà lan lớn nhỏ, thu cước phí bằng tiền tương đương từ 5-10 kg thóc.

8. Mức thu thủy lợi phí đối với nuôi trồng thủy sản:

a) Các công ty, xí nghiệp thủy lợi được quyền kết hợp sử dụng hồ chứa nước do mình quản lý để nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản thiên nhiên, hoặc cho đấu thầu nuôi trồng thủy sản nhằm tăng nguồn thu cho công ty, xí nghiệp.

Đối với những hồ đã có doanh nghiệp thủy sản quốc doanh nuôi trồng và khai thác, theo quyết định của UBND tỉnh thì doanh nghiệp thủy sản phải đóng thủy lợi phí cho công ty, xí nghiệp thủy lợi với mức: cứ 1 ha mặt nước, hồ bình quân mỗi năm thu bằng tiền tương đương từ 5-10 kg thóc.

b) Cấp nước ngọt cho các ao đầm nuôi cá rô phi đơn tính và nuôi tôm xuất khẩu cứ bình quân mỗi năm thu bằng tiền tương đương 15-20kg thóc/ha mặt nước.

9. Mức thu thủy lợi phí cho cấp nước công nghiệp, sinh hoạt đô thị, thị trấn... được tính:

- Nếu cấp nước trực tiếp (bơm lên bể chứa nước): Mức thu là 15% giá bán nước.

- Nếu cấp nước tạo nguồn, mức thu là 10% giá bán nước.

10. Mức thu thủy lợi phí cho cấp nước các trạm thủy điện nhỏ được tính bằng 20% giá điện do nhà máy thủy điện phát ra.

11. Các công ty, xí nghiệp thủy lợi... nếu tưới tiêu không đảm bảo theo hợp đồng, làm ảnh hưởng đến sản xuất thì phải chịu trách nhiệm, bồi hoàn thiệt hại kinh tế; Trường hợp cấp nước không đủ và không kịp thời do thiếu điện thì ngành điện phải chịu bồi hoàn chi phí.

Các điều kiện bồi thường thiệt hại được ghi rõ trong hợp đồng từ đầu vụ.

12. Trường hợp thiên tai gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, UBND tỉnh miễn giảm thủy lợi phí cho hộ dùng nước theo quy định tại Nghị định 112/HĐBT ngày 25/8/1984.

13. Các hộ dùng nước ký hợp đồng tưới tiêu với các công ty, xí nghiệp thủy lợi... từ đầu vụ và có nhiệm vụ sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm: quản lý, khai thác và bảo vệ tốt phần công trình thủy lợi nội đồng do mình phụ trách; có trách nhiệm trả đủ thủy lợi phí theo hợp đồng đã ký vào cuối vụ sản xuất. Trường hợp mất mùa không phải do thiên tai, mà do dùng nước không tuân thủ quy định về mùa vụ, không thực hiện đúng quy trình sản xuất nông nghiệp... thì hộ dùng nước vẫn phải trả đủ thủy lợi phí theo hợp đồng.