Điều 16. Tuyên truyền, vận động, đối thoại với người bị cưỡng chế, thông báo việc cưỡng chế
1. Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày kế hoạch cưỡng chế được phê duyệt, Ban thực hiện cưỡng chế phối hợp với chính quyền địa phương, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị, đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện, cấp xã tổ chức tuyên truyền nhằm tạo sự đồng thuận trong nhân dân; vận động, thuyết phục người bị cưỡng chế, người có nghĩa vụ liên quan chấp hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.
2. Nếu người bị cưỡng chế tự nguyện chấp hành thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản công nhận sự tự nguyện, có chữ ký của các thành phần tham gia và chữ ký (hoặc điểm chỉ) của người bị cưỡng chế. Người bị cưỡng chế tự nguyện chấp hành phải thực hiện cam kết trong thời hạn ba (03) ngày, kể từ ngày lập biên bản.
3. Sau khi đã được vận động, thuyết phục mà người bị cưỡng chế vẫn không chấp hành; hoặc đã quá thời hạn ba (03) ngày theo cam kết mà người bị cưỡng chế không tự giác thực hiện thì Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản vận động không thành. Chậm nhất là sau ba (03) ngày, kể từ ngày lập biên bản vận động không thành, Ban thực hiện cưỡng chế phải thông báo bằng văn bản việc cưỡng chế đến người bị cưỡng chế và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Thông báo việc cưỡng chế phải có các nội dung chủ yếu sau: người bị cưỡng chế, đối tượng, biện pháp, thời gian, địa điểm cưỡng chế; các yêu cầu đối với người bị cưỡng chế.
4. Trường hợp không thể xác định được địa chỉ của người bị cưỡng chế thì Ban thực hiện cưỡng chế phối hợp Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế niêm yết công khai thông báo cưỡng chế tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và nơi sinh hoạt tập trung của thôn, tổ dân phố, khu dân cư nơi có đất tranh chấp. Thời gian niêm yết ít nhất là ba (03) ngày trước ngày thực hiện việc cưỡng chế.