Điều 10. Đề nghị cưỡng chế thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai
1. Khi quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực thi hành mà các bên tranh chấp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tự giác thực hiện thì người được công nhận quyền quản lý, sử dụng đất gửi đơn và hồ sơ đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất tranh chấp đề nghị cưỡng chế.
Hồ sơ đề nghị cưỡng chế gồm:
- Đơn hoặc văn bản đề nghị cưỡng chế;
- Bản sao quyết định giải quyết tranh chấp đất đai có hiệu lực;
- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh người được công nhận quyền quản lý, sử dụng đất đã thực hiện nghĩa vụ theo quyết định giải quyết tranh chấp đất đai.
2. Trong thời hạn không quá hai (02) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cưỡng chế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chuyển hồ sơ đến Phòng Tài nguyên và Môi trường để thẩm định.
3. Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chuyển đến, Phòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn có liên quan tổ chức thẩm định; thông báo bằng văn bản cho người đề nghị cưỡng chế biết về tình trạng hồ sơ, nếu hồ sơ chưa đầy đủ thì yêu cầu bổ sung các giấy tờ cần thiết.
Trong thời hạn không quá bảy (07) ngày làm việc sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ hoặc đã nhận đủ giấy tờ bổ túc hồ sơ, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thu thập thông tin, phối hợp với Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã nơi có tranh chấp tổ chức vận động, thuyết phục các bên có liên quan tự giác thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai. Kết quả vận động, thuyết phục phải lập thành biên bản.
4. Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản vận động, thuyết phục, Phòng Tài nguyên và Môi trường báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện kết quả thẩm định hồ sơ, kết quả vận động, thuyết phục và đề xuất ban hành hay không ban hành quyết định cưỡng chế.