Điều 14. Tổ chức thực hiện
1. Các chủ rừng có trách nhiệm xây dựng Quy định, Quy chế quản lý rừng, bảo vệ rừng của đơn vị với nội dung, nhiệm vụ cụ thể, chi tiết cho từng bộ phận gián tiếp, trực tiếp quản lý rừng, bảo vệ rừng nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý rừng, bảo vệ rừng và thuận lợi trong công tác kiểm tra, giám sát, xử lý trách nhiệm. Triển khai thực hiện nghiêm túc Quy định này; xử lý và đề nghị xử lý trách nhiệm quản lý rừng, bảo vệ rừng của đơn vị theo thẩm quyền.
2. Hạt Kiểm lâm sở tại, Hạt Kiểm lâm
a) Chỉ đạo, phối hợp các đơn vị có liên quan thiết lập đầy đủ hồ sơ các vụ phá rừng trái pháp luật và các hành vi vi phạm khác xâm hại đến rừng, lâm sản theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; Hạt trưởng: Hạt Kiểm lâm sở tại, Hạt Kiểm lâm phải chịu trách nhiệm về các trường hợp vi phạm về quản lý rừng, bảo vệ rừng do không kịp thời lập hồ sơ hoặc lập hồ sơ không đúng quy định.
b) Thực hiện xem xét đề xuất xử lý kỷ luật về trách nhiệm quản lý rừng, bảo vệ rừng đối với công chức Kiểm lâm, Kiểm lâm địa bàn, Trạm Kiểm lâm; tham mưu cho Chi cục Kiểm lâm, Ủy ban nhân dân cấp huyện xử lý kỷ luật về trách nhiệm của Kiểm lâm trên địa bàn quản lý.
c) Theo dõi, cập nhật đầy đủ và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chi cục Kiểm lâm tình hình xử lý các vụ vi phạm về quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn phân cấp quản lý.
3. Chi cục Kiểm lâm
a) Trên cơ sở kết quả theo dõi diễn biến rừng hàng năm có trách nhiệm thống kê tình hình rừng bị thiệt hại do phá rừng trái pháp luật và các hành vi vi phạm khác xâm hại đến rừng, lâm sản; đề nghị cơ quan, đơn vị có chức trách, nhiệm vụ quản lý rừng, bảo vệ rừng thực hiện xử lý kỷ luật về trách nhiệm quản lý rừng, bảo vệ rừng theo quy định; chỉ đạo, thực hiện xử lý kỷ luật về trách nhiệm quản lý rừng, bảo vệ rừng đối với Kiểm lâm theo thẩm quyền.
b) Định kỳ 06 tháng tổng hợp, tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo Ủy ban nhân dân tình hình xử lý trách nhiệm về quản lý rừng, bảo vệ rừng và tình hình xử lý các vụ vi phạm về quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản trên toàn tỉnh.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện Quy định này; theo dõi, chỉ đạo xử lý hoặc phối hợp trong xử lý kỷ luật về trách nhiệm quản lý rừng, bảo vệ rừng đối với chủ rừng, Ủy ban nhân dân cấp xã, Hạt Kiểm lâm sở tại, Hạt Kiểm lâm.
5. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm phối hợp với Sở Nội vụ, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã theo dõi, đôn đốc việc thực hiện xử lý kỷ luật về trách nhiệm quản lý rừng, bảo vệ rừng đối với các chủ rừng, các đơn vị trực thuộc.
6. Các cơ quan, đơn vị khác theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao ở địa phương phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm, UBND cấp huyện, UBND cấp xã và các đơn vị có liên quan tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân thực hiện các quy định của nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Khi nhận được lệnh điều động của cấp có thẩm quyền phải nhanh chóng điều động người, phương tiện, trang thiết bị cần thiết của đơn vị, tổ chức, cá nhân đóng trên địa bàn để kịp thời ngăn chặn, ứng cứu những vụ phá rừng trái pháp luật và các hành vi vi phạm khác xâm hại đến rừng trong những tình huống cấp thiết.
7. Trong quá trình thực hiện Quy định này nếu có những vướng mắc, phát sinh không phù hợp; các cơ quan, tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Nội vụ để tổng hợp, báo cáo đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định điều chỉnh, bổ sung./.