Điều 26. Trình tự thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1. Sau khi thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và Tổ công tác; trên cơ sở kế hoạch tiến độ giải phóng mặt bằng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban giải phóng mặt bằng, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng hợp thông báo về kế hoạch, tiến độ, các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với tổ chức, hộ gia đình cá nhân có đất, tài sản thuộc phạm vi thu hồi đất của dự án; công bố các tài liệu liên quan việc thu hồi đất, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng; niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất thu hồi.
2. Tổ chức điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm:
Ủy ban nhân dân cấp xã và người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Việc điều tra, khảo sát, thống kê, kiểm đếm được lập thành biên bản hoặc biểu kê có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia, chữ ký của người có đất và tài sản trong phạm vi thu hồi (hoặc người được uỷ quyền theo quy định của pháp luật) có đóng dấu xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã và Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; số liệu trong biên bản hoặc biểu kê không được sửa chữa tẩy xóa.
Trường hợp người bị thu hồi đất không hợp tác để thực hiện thống kê, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Mặt trận tổ quốc cấp xã nơi có đất thu hồi và Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện. Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận (bằng văn bản) ngày bắt đầu tổ chức công tác vận động, thuyết phục.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày vận động, thuyết phục người sử dụng đất vẫn không phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định kiểm đếm bắt buộc. Người có đất bị thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc. Trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định nêu trên theo quy định tại Điều 70 Luật Đất đai.
3. Xác nhận của các cơ quan liên quan:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm xác nhận các nội dung:
- Tình trạng tranh chấp, nguồn gốc, quá trình, thời điểm sử dụng đất;
- Tình hợp pháp, thời điểm và quá trình hình thành của tài sản gắn liền với đất;
- Xác nhận đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, tỷ lệ phần trăm (%) diện tích đất nông nghiệp thu hồi quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP; số nhân khẩu trong độ tuổi lao động (đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp, thu hồi đất ở kết hợp với kinh doanh có nhu cầu hỗ trợ đào tạo, học nghề và tìm kiếm việc làm); xác định các trường hợp được bồi thường, được hỗ trợ, được tái định cư;
- Xác nhận đối tượng hộ nghèo được hưởng chính sách hỗ trợ quy định tại Khoản 3 Điều 19 Quy định này.
b) Công an cấp xã xác nhận về nhân khẩu thường trú của từng hộ;
c) Cơ quan thuế (Cục thuế hoặc Chi cục thuế trực tiếp quản lý) có trách nhiệm xác nhận về thu nhập sau thuế làm căn cứ hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo quy định tại Khoản 4 Điều 16 Quy định này;
d) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện xác nhận đối tượng chính sách được hưởng hỗ trợ.
Việc xác nhận trên là cơ sở để lập phương án dự toán bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; người được giao nhiệm vụ xác nhận phải trung thực, khách quan và phải ký tên đóng dấu, chịu trách nhiệm trước pháp luật về xác nhận của mình.