Điều 5. Bồi thường, hỗ trợ do phải di dời mồ mả theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP
1. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm bố trí quỹ đất trong các nghĩa trang theo quy hoạch để di dời mồ mả khi thu hồi đất. 2. Đối với mồ mả trong phạm vi đất thu hồi phải di dời thì được bồi thường các chi phí bao gồm: chi phí đào, bốc, di dời, xây dựng mới và các chi phí hợp lý khác có liên quan trực tiếp để di dời mồ mả đến vị trí mới trong nghĩa trang theo quy hoạch. Mức bồi thường theo đơn giá do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
3. Trường hợp tự thu xếp việc di chuyển mồ mả ngoài khu vực được bố trí hoặc hình thức hoả táng, lưu giữ tro cốt tại các cơ sở lưu giữ tro cốt thì ngoài mức bồi thường tại khoản 2 Điều này còn được hỗ trợ tiền là 6.000.000 đồng/mộ.
4. Mồ mả xây có kiến trúc đặc biệt: Đơn vị thực hiện bồi thường lập dự toán hoặc thuê đơn vị tư vấn đủ năng lực lập dự toán, gửi Phòng chuyên môn 4 có chức năng về xây dựng của cấp huyện thẩm định hoặc thuê đơn vị tư vấn đủ năng lực thẩm tra trình Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư xem xét, có kết luận trước khi Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.
5. Đối với mồ mả vô chủ hoặc trong trường hợp cưỡng chế di dời mồ mả: Đơn vị thực hiện bồi thường ký hợp đồng với đơn vị phục vụ mai táng của địa phương để tổ chức bốc mồ mả, cải táng và để thân nhân nhận lại mồ mả sau này và tiến hành thực hiện các nội dung sau:
a) Vẽ sơ đồ, tọa độ các mồ mả nói trên trước khi dời đi và phải chụp ảnh những mồ mả này.
b) Ghi thông tin về họ tên, tuổi, ngày chết, quê quán của người chết, nơi đã chôn và tình trạng mồ mả trước lúc di chuyển.
c) Giữ lại bia mồ mả cũ, thánh giá cũ hoặc các vật đặc trưng của ngôi mồ mả (nếu có) để sau này chủ mồ mả có thêm bằng chứng xác minh. Thời gian giữ lại là 02 năm kể từ ngày di dời.
6. Đối với mồ mả có nhiều bộ hài cốt: Ngoài việc bồi thường di chuyển đối với 01 mồ mả theo quy định; mỗi một bộ hài cốt phát sinh sẽ được bồi thường di chuyển theo đơn giá mồ mả đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.