Điều 16. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở được thực hiện theo quy định tại Điều 91, Điều 98, Điều 111 Luật Đất đai, Điều 8, 9, 10, 11 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP. Trường hợp bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì được thực hiện như sau:
1. Điều kiện bồi thường bằng đất ở như sau:
a) Việc bồi thường bằng đất ở được thực hiện khi Nhà nước thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất thu hồi tại khoản 7 Điều 91 Luật Đất đai mà nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc không đảm bảo điều kiện để xây dựng lại nhà theo quy định của pháp luật về xây dựng mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi.
b) Diện tích bồi thường bằng đất ở thực hiện theo nguyên tắc bồi thường tương đương với diện tích đất ở thu hồi và tròn lô đất ở, tròn căn hộ tái định cư.
2. Việc bồi thường bằng đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có đất ở thu hồi khi đáp ứng các điều kiện tại khoản 1 Điều này được giải quyết như sau:
a) Diện tích đất ở thu hồi dưới 40 m² đất ở tại đô thị, dưới 60 m² đất ở tại nông thôn thì bồi thường bằng căn hộ tái định cư. Trường hợp địa bàn cấp huyện không có căn hộ tái định cư thì bồi thường bằng một lô đất ở.
b) Diện tích đất ở thu hồi từ 40 m² đến dưới 100 m² đất ở tại đô thị, từ 60 m² đến dưới 150 m² đất ở tại nông thôn được bồi thường bằng một lô đất ở.
c) Diện tích đất ở thu hồi từ 100 m² đất ở tại đô thị, từ 150 m² đất ở tại nông thôn trở lên thì được bồi thường diện tích tương đương với diện tích đất ở thu hồi, nhưng không vượt quá diện tích đất ở thu hồi. Trường hợp diện tích đất ở sau khi bồi thường bằng đất ở mà diện tích còn lại chưa tròn lô đất ở, nếu diện tích còn lại chiếm từ 50% trở lên của 01 lô đất ở thì được giao thêm một lô đất ở.
3. Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ hoặc có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 01 thửa đất ở bị thu hồi mà diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình thì được xem xét để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho các hộ gia đình còn thiếu (gọi tắt là hộ ghép) như sau:
a) Diện tích đất ở thu hồi dưới 100 m² đất ở tại đô thị, dưới 150 m² đất ở tại nông thôn mà chỉ có 01 hộ ghép thì không giải quyết thêm đất ở; có từ 02 hộ ghép trở lên thì giao 01 lô đất ở (để giải quyết chung cho các hộ ghép).
b) Diện tích đất ở thu hồi từ 100 m² tại đô thị, từ 150 m² tại nông thôn trở lên mà số lượng hộ ghép nhỏ hơn hoặc bằng số lượng lô đất đã bồi thường cho hộ có đất thu hồi thì không giải quyết đất ở cho hộ ghép; trường hợp số lượng hộ ghép nhiều hơn số lượng lô đất đã bồi thường cho hộ có đất thu hồi thì giao 01 lô đất ở.
4. Đối với địa bàn cấp huyện có căn hộ tái định cư thì ưu tiên hoặc vận động người có đất thu hồi nhận bồi thường bằng căn hộ tái định cư.
5. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất được thực hiện như sau:
a) Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, căn hộ do chủ đầu tư khu chung cư, nhà ở đề xuất và được cơ quan quản lý chuyên ngành xây dựng chủ trì thẩm định, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
b) Giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất là giá đất theo Nghị định của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.
c) Thời điểm xác định giá đất ở để tính thu tiền sử dụng đất: Đối với việc bồi thường đất ở, giải quyết tái định cư cho hộ có đất thu hồi là thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đối với việc giải quyết đất ở cho hộ ghép là thời điểm có quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền.