Điều 25. Quy định về quản lý quỹ đất đã thu hồi
1. Đất đã thu hồi theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai và Mục 2 Chương II của bản Quy định này thì giao cho chủ đầu tư để thực hiện dự án đầu tư hoặc giao cho tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh quản lý đối với trường hợp thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân Tỉnh; giao cho tổ chức phát triển quỹ đất cấp huyện quản lý đối với trường hợp thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
2. Đất đã thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật Đất đai (thu hồi đất do vi phạm) và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai thì giao cho tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh quản lý đối với trường hợp thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân Tỉnh; giao cho tổ chức phát triển quỹ đất cấp huyện quản lý đối với trường hợp thẩm quyền thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp huyện để quản lý, tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất.
Trường hợp đất đã thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai là đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn thì giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý. Quỹ đất này được giao, cho thuê đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất theo quy định của pháp luật.
Trường hợp đất đã thu hồi theo quy định tại các điểm đ, e khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai thì giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý.
3. Nhà nước quyết định thu hồi đất và giao đất cho tổ chức Phát triển quỹ đất để trực tiếp quản lý quỹ đất đã thu hồi đối với trường hợp sau khi kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư; tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất theo quy định của pháp luật.