Điều 4. Xác định người sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được sự cho phép của người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể có kết quả dương tính.
2. Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể được thực hiện đối với người thuộc trường hợp sau đây:
a) Một người có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy khi có một trong các căn cứ sau đây:
- Tin báo, tố giác của cá nhân, cơ quan, tổ chức đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh, làm rõ;
-Thông tin, tài liệu trong các vụ vi phạm pháp luật;
-Người có biểu hiện mất năng lực nhận thức hoặc kiểm soát hành vi nghi do sử dụng ma túy;
- Trên người, phương tiện, nơi ở của người đó có dấu vết của chất ma túy hoặc dụng cụ, phương tiện sử dụng trái phép chất ma túy;
- Người điều khiển phương tiện có biểu hiện sử dụng chất kích thích nghi là ma túy;
- Người có mặt tại các địa điểm có hành vi tổ chức, chứa chấp hoặc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không có lý do chính đáng;
- Người tự khai báo hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
- Người bị phát hiện quả tang sử dụng trái phép chất ma túy;
- Những căn cứ khác theo quy định của pháp luật.
b) Người sử dụng trái phép chất ma túy đang trong thời hạn quản lý.
c) Người đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đang cai nghiện ma túy; đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy.
3. Thẩm quyền xét nghiệm chất ma túy được quy định tại khoản 2, Điều 22 Luật Phòng, chống ma túy.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể thực hiện theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 105/2021/NĐ-CP ngày 04 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.